Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Tài liệu / Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954 / CHƯƠNG 10 - Ngày hội nghị đầu tiên – Lời lẽ sắc bén

CHƯƠNG 10 - Ngày hội nghị đầu tiên – Lời lẽ sắc bén

 

CHƯƠNG 10

Ngày hội nghị đầu tiên – Lời lẽ sắc bén

 

Churchill ngày một già đi, nhưng những phán đoán, nhận định về tình hình thế giới vẫn rõ ràng chính xác lạ thường. Dòng người ở Genève đông như mắc cửi, tất cả đều hướng về cung Vạn Quốc tráng lệ. Ngoại trưởng hai miền Nam - Bắc Triều Tiên đang ở đó “đấu trận”, làm cho mọi người ngửi thấy cả mùi khói súng của chiến trường Triều Tiên xa xôi.

 
Ngay sau ngày khai mạc Hội nghị Genève, ngày 27/4, Thủ tướng Anh Churchill, lúc đó đã 80 tuổi, hội kiến Đại sứ Pháp [René] Massigli tại dinh thủ tướng. Đại sứ Pháp vội vàng đưa ra thỉnh cầu Anh ủng hộ “liên minh hành động” của Mỹ, nhằm giải vây cho Điện Biên Phủ. Chỉ cần Điện Biên Phủ còn ở trong tay quân Pháp, thì cục diện trên bàn đàm phán ở Genève của phe phương Tây không khốn đốn đến mức không thể thu xếp. Massigli nhấn mạnh, hiện tại đã là cơ hội cuối cùng.

Churchill đã cắt ngang lời nói của Đại sứ Pháp. Ông dự định sẽ nghe bất kỳ kiến nghị nào khác của Pháp, ngoài kiến nghị sử dụng quân sự. Vị thủ tướng già chậm dãi khen những chiến sĩ Pháp ở Điện Biên Phủ đã ngoan cường chiến đấu, sau đó ông nói rằng rất tiếc là ông không thể giải cứu họ. Churchill nói: lần này Anh không đồng ý với lập trường “liên minh” nhưng không có nghĩa là nước Anh không còn là bạn của hai nước Mỹ, Pháp. Trong nhiều vấn đề trọng đại khác, Mỹ và Anh vẫn không có gì thay đổi. Nhưng nước Anh hiện tại đã nhận định được rằng rất có khả năng vấn đề sẽ được giải quyết tại hội nghị Genève. Ngược lại, oanh tạc bằng không quân sẽ hủy hoại khả năng đạt được hiệp định tại Genève. Chính phủ Anh thấy rất rõ tình hình hiện tại.

Churchill nói rất rõ ràng rằng: “Những chuyện chúng tôi đã quyết định thì sẽ không thay đổi. Đương nhiên, tôi cũng biết có rất nhiều ý kiến phản đối. Nhưng tôi đã bỏ qua và quyết không nhượng bộ.”

Chính trị gia lão thành này an ủi vị Đại sứ Pháp đang lo lắng không yên này rằng: “Nước Anh chúng tôi cũng đang đau đầu vì rất nhiều vấn đề, ví dụ như các vấn đề về Singapore, Hongkong, Thổ Nhĩ Kỳ… cũng tự nhiên như vậy, nước Pháp cũng gặp phải những vấn đề tương tự như Điện Biên Phủ.”

Đến lúc này, lập trường của Anh có thể nói là tương đối rõ ràng. Churchill vẫn chưa yên tâm, ông lại tuyên bố tại cuộc họp Quốc hội Anh chiều hôm đó rằng: “Chính phủ Anh quyết không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ quân sự nào trước khi hội nghị Genève đạt được kết quả.” Churchill kêu gọi các nghị sĩ: “Đừng hủy bỏ cơ hội đàm phán! Hãy đặt Hội nghị Genève lên vị trí ưu tiên!” Các nghị sĩ vỗ tay để bày tỏ sự ủng hộ của mình với vị chính trị gia lão thành.

Đã đến nước này, Thủ tướng Pháp Laniel coi như đã hiểu rằng không tập trung sức lực vào Genève là không được nữa rồi. Nhưng, Laniel đã chỉ thị cho Bidault, có vấn đề gì thì chủ yếu là đàm phán với đại biểu Trung Quốc và Liên Xô, tận dụng

hết khả năng tránh đàm phán trực tiếp với đại biểu Hồ Chí Minh.

Buổi sáng ngày mà Churchill hội kiến Đại sứ Pháp, thì tại Genève, Dulles đến gặp Eden tại khách sạn. Vừa gặp mặt Eden, ông ta đã nói: “Tôi muốn thẳng thắn nói về những vấn đề mà chúng ta cùng quan tâm”. Dulles chỉ trích nước Anh đơn phương từ bỏ hiệp định mà hai nước đã ký vào ngày 13 tháng Tư. Nước Anh đang cổ vũ nước Pháp đi theo hướng đình chiến hoàn toàn. Điều này sẽ gây nên một trận thảm họa. Dulles nói: “Điều quan trọng nhất hiện nay là cả hai bên chúng ta đều phải cổ vũ nước Pháp đánh tiếp tại Đông Dương.”

Eden nghe xong những lời nói phẫn nộ đó, liền nói: “Tôi đã thể hiện rõ thái độ của nước Anh với Bidault. Hiện tại, đình chiến có thể đạt được sự đảm bảo an toàn và có thể kiểm soát được tình hình.

Dulles nhắc nhở Eden chú ý rằng nước Mỹ đã có một phương án, chính là thành lập Tổ chức an ninh Đông Nam Á. Trong trường hợp Hội nghị Genève không đạt được kết quả gì, thì sẽ cho phép các quốc gia Đông Dương gia nhập tổ chức này.

Eden nhấn mạnh điều nước Anh lo nhất là nếu dùng quân sự ở Đông Dương, hậu quả còn đáng sợ hơn là ở chiến tranh Triều Tiên. Các quốc gia châu Á không hoan nghênh kết cục này.

Dulles nói, nước Mỹ lo lắng về tình hình châu Á còn hơn nước Anh.

Eden bày tỏ phía Anh cần phải xem có những thực tế nào xảy ra trong quá trình diễn ra hội nghị Genève. Nếu quả đúng Điện Biên Phủ nguy cấp, chúng tôi đương nhiên phải giúp nước Pháp một tay.

Dulles cho biết Mỹ vô cùng lo lắng cho tình hình nước Pháp. Nếu chính phủ Laniel bị lật đổ, phe cánh tả sẽ lên, điều này sẽ làm tăng thêm thế lực cho ĐCS tại Pháp, và cũng ảnh hưởng đến cả Italia.

Câu chuyện đến đây thì Bidault sau khi hội kiến Molotov cũng xuất hiện.

Genève vào tháng Tư gió hòa trời đẹp, xa xa núi xanh biếc, đường phố nhộn nhịp. Sóng biếc dập dờn trên hồ Leman, viền quanh hồ là con đường nhỏ. Đại đa số các ngôi nhà ở đây đều nhỏ nhắn xinh xắn, trước cửa và sau sân nhà là hoa và cây cảnh tốt tươi. Một thành phố cũ được xây dựa lưng vào núi, với những con phố nhỏ hẹp, đường được rải bằng đá cuội. Nhìn ra xa, giáo đường đứng sừng sững cùng những kiến trúc cổ đi liền xung quanh. Hai công viên nổi tiếng, trong đó có Công viên Hoa hồng, trông giống như một viên minh châu bị đứt dây, rơi xuống bên hồ Leman.

Nơi phong cảnh hữu tình này lại không thấy bóng dáng của các trưởng đoàn đoàn đại biểu các nước tham gia hội nghị. Trong hội trường của hội nghị Genève chỉ thấy những lời lẽ đanh thép, không ai chịu nhường ai. Hậu trường ngoại giao cũng đang trong giai đoạn căng thẳng, dường như đấy mới là mấu chốt.

Lúc 11 giờ trưa ngày 27 tháng Tư, bảo vệ báo cáo với Bidault, Ngoại trưởng Liên Xô Molotov đến. Bidault cảm thấy một chút cơ hội sống trong tay rất có thể nằm ở tâm lý cấp bách của đối thủ. Eden đã từng nói với Bidault vào buổi chiều trước hôm khai mạc hội nghị Genève rằng Molotov đã đến hội kiến Ngoại trưởng Anh. Trong cuộc nói chuyện ngắn ngủi, Molotov đã hai lần nhắc đến vấn đề Đông Dương, thể hiện ra sự cấp thiết không bình thường, đây có thể là một điềm tốt.

Quả nhiên, Molotov vừa bước qua cửa đã hỏi trình tự hội đàm các vấn đề Đông Dương được sắp xếp như thế nào?

Bidault nói với Molotov rằng, nước Pháp rất hy vọng có vấn đề gì thì tìm Liên Xô giải quyết, nhiều nhất là thêm Chu Ân Lai của Trung Quốc, chứ không thể cùng đàm phán với đại biểu Việt Nam. Bidault nói, ngoài Ngoại trưởng của năm nước, việc thảo luận các vấn đề Đông Dương còn có sự tham gia của đại diện Chính phủ Bảo Đại Việt Nam, đại biểu Lào và Vương quốc Campuchia.

Đối với đề nghị của Bidault, Molotov không phản đối, nhưng ông đề nghị nên có sự tham gia của đại biểu Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Hồ Chí Minh. Đây là việc đương nhiên.

Bidault không đồng ý, nói rằng chuyện này chỉ cần đàm phán với Liên Xô và Trung Quốc là được, vì đại biểu Hồ Chí Minh hoàn toàn nghe theo hai nước Liên Xô và Trung Quốc.

Molotov không khách khí mà chỉ ra rằng thông cáo của Hội nghị Berlin không quy định rằng tham gia Hội nghị Genève phải có điều kiện tiên quyết nào, thông cáo còn chỉ ra là ngoài năm nước lớn còn nên có đại biểu các quốc gia khác tham gia, điều này đương nhiên bao gồm cả đại biểu của nước Việt Nam DCCH.

Bidault nghẹn lời trong một lúc, nói, sẽ về nghiên cứu vấn đề này. Ông chuyển sang vấn đề khác, trước khi thảo luận danh sách các đại biểu tham gia hội nghị, nhất thiết phải giải quyết việc đưa các thương binh Pháp ra khỏi Điện Biên Phủ. Do pháo cao xạ của bộ đội Việt Nam tấn công quyết liệt, máy bay Pháp ngay từ đầu đã không thể hạ cánh xuống Điện Biên Phủ, khiến các thương binh Pháp bị vây khốn trong đó càng ngày càng nhiều. Đại đa số họ phải chen chúc trong hầm ẩn nấp dưới đất, ô uế không thể chịu được. Trước mắt, chỉ có thể nhờ Liên Xô ra mặt gây sức ép với Hồ Chí Minh để thương binh Pháp được di chuyển ra khỏi Điện Biên Phủ, sau đó sẽ hội đàm cũng không muộn.

Molotov đồng ý rằng vấn đề này có thể cùng được giải quyết với các vấn đề khác. Tổng cộng hai bên nói chuyện 40 phút.

Đội hình đoàn đại biểu bốn nước Trung Quốc, Liên Xô, Anh và Pháp tham gia hội nghị lần này rất lớn, song đoàn đại biểu Mỹ chỉ có chưa đến 50 người. Trưởng đoàn đại biểu Mỹ Dulles kiên quyết ở trong khách sạn, trong tư thế vội đến rồi lại vội đi.

Khi vừa đến Genève, Dulles đã hội kiến Ngoại trưởng Australia Casey. Dulles nói với Casey, ông ta đã hội đàm với Bảo Đại tại Paris ngày 24 tháng Tư, Bảo Đại bày tỏ: dù nước Pháp đánh tiếp tại Việt Nam, sau này cũng sẽ phải bỏ Đông Dương. Ông ta hy vọng Mỹ sẽ lấp vào “chỗ trống” này.

Casey phân tích với Dulles rằng ông đã đoán được tính toán của Eden, trước khi hội nghị Genève diễn ra, Anh sẽ không tham gia vào cuộc xung đột mà Mỹ đơn phương tiến hành tại Đông Dương, nhưng sẽ toàn tâm ủng hộ nước Pháp đạt được một biện pháp giải quyết “thể diện” tại Genève. Casey đề nghị Dulles không nên ngại tiếp xúc với Molotov tại Genève để tìm hiểu con đường giải quyết vấn đề nằm ở đâu.

Sau buổi trưa cùng ngày, Molotov đã đến Tổng lãnh sự Mỹ tại Genève để gặp

Dulles.

Hai người này vốn là đối thủ cũ của nhau, nhưng nói chuyện thẳng thắng rõ ràng. Vừa gặp mặt, Molotov đã trao tận tay Dulles văn bản trả lời của Chính phủ Liên Xô đối với công hàm ngày 29 tháng 3 của Mỹ về vấn đề năng lượng nguyên tử. Văn bản trả lời bằng tiếng Nga này dài tám trang. Molotov mỉm cười nói với Dulles rằng, có thể ngài Ngoại trưởng không thể lập tức trả lời văn bản phúc đáp này, nhưng văn bản này thực sự đã biểu đạt được thái độ của Chính phủ Liên Xô đối với kiến nghị của Tổng thống Eisenhower về vấn đề năng lượng nguyên tử ngày 8 tháng 12 năm ngoái. Molotov nói, nếu ông đã nghiên cứu kỹ vấn đề này thì tôi sẽ sắp xếp một cuộc hội đàm với ông về vấn đề này.

Dulles nói: “Đó là điều đương nhiên, nhưng trước tiên tôi phải dịch văn bản tiếng Nga của ông, sau khi đã đọc xong văn bản này, tôi sẽ trao đổi ý kiến với ông.”

Molotov gật gật đầu đồng ý.

Lúc đó, Dulles nói với Molotov: “Nếu ông không phiền thì tôi có thể nói vài câu về vấn đề Đông Dương không?”.

“Đâu có”, Molotov nói: “Tôi rất hứng thú với chuyện này.”

Dulles nói: Đông Dương đang ở trong tình cảnh vô cùng khó khăn. Về vấn đề Đông Dương mà nói, cả Mỹ và Liên Xô đều không phải là hai bên giao tranh ở đó, nhưng những xung đột ở đó lại có quan hệ mật thiết với Mỹ và Liên Xô. Tôi muốn nhắc nhở ngài Molotov, khi ở hội nghị Berlin, ông đã từng nói ông rất lo lắng những xung đột ở Đông Dương sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Từ đó đến nay tôi luôn rất quan tâm đến vấn đề Đông Dương. Chiến tranh ở đó không ngừng leo thang, Trung Quốc không ngừng viện trợ quân sự cho khu vực đó, làm cho Chính phủ và nhân dân Mỹ vô cùng lo lắng cho tình hình tại đó. Chúng tôi lo ngại ở đó sẽ xảy ra cuộc xâm lược quy mô lớn, tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng đến nước Mỹ.

Dulles tiếp tục nói, bản thân ông ta cũng chưa nhìn ra viễn cảnh giải quyết những xung đột nghiêm trọng ở Đông Dương, nhưng hy vọng Molotov có thể tìm được một con đường có hiệu quả giải quyết được vấn đề này. Dulles nói, hai nước Mỹ và Liên Xô nên gia tăng ảnh hưởng của mình để ngăn không cho những xung đột này lan rộng và tiến triển theo hướng dịu dần.

Molotov trả lời, Liên Xô đương nhiên quan tâm đến vấn đề Đông Dương, hy vọng có thể góp sức cho hòa bình ở đó. Nhất định phải suy tính rằng cuộc xung đột ở Đông Dương đã kéo dài tới 8 năm, điều này đòi hỏi chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến tình thế ở đó, và tìm một con đường đi đến hòa bình.

Molotov nói, theo tôi thì bước cần thiết đầu tiên là lắng nghe ý kiến của cả hai bên, và tiến đến hòa giải, vì không một nước nào lại muốn nhìn thấy chiến tranh ở Đông Dương lan rộng. Hai quốc gia cách xa Đông Dương cả ngàn dặm là Liên Xô và Mỹ cũng như vậy thôi.

Molotov nói với Dulles rằng, hy vọng đại biểu Mỹ có thể coi đại cục hòa bình thế giới là vấn đề quan trọng, có thái độ chân thành tại Hội nghị Genève. Ông cho rằng một trong những mấu chốt giải quyết vấn đề này là phải xem Mỹ có thay đổi chính sách với Đông Dương hay không.

Molotov đề cập đến cuộc gặp vừa diễn ra giữa ông và Bidault. Bidault đã chỉ ra những quốc gia sẽ tham gia hội nghị giải quyết vấn đề Đông Dương. Ý kiến của đoàn đại biểu Liên Xô là tham gia hội nghị sẽ bao gồm: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, ba nước Đông Dương, và đại biểu Hồ Chí Minh. Ngoài ra, cũng có thể còn yêu cầu thêm một số đại biểu của các quốc gia châu Á tham gia hội nghị, ví dụ như: Ấn Độ rất quan tâm đến vấn đề Đông Dương, cho Ấn Độ tham gia sẽ gây được ảnh hưởng tích cực, nhưng dù sao thì chín đoàn đại biểu đầu tiên phải tham gia hội nghị.

Đến lượt Dulles đưa ra ý kiến của mình. Ông nói, xem ra chín đoàn đại biểu mà ngài vừa nói thực sự là nên tham gia hội nghị. Nhưng, ngoài năm đoàn đại biểu đầu tiên mà ngài nói ra, còn lại ba nước Đông Dương và đại biểu chính quyền Hồ Chí Minh có đủ kinh nghiệm giải quyết các vấn đề quốc tế hay không, thì còn phải xem xét thêm.

Dulles nói, ông ta rất mong muốn trước khi quay trở lại Washington sẽ được biết Molotov với tư cách là đại biểu Liên Xô, đang xem xét vấn đề gì. Ông không rõ vấn đề mà các đại biểu tham gia hội nghị vừa nhắc đến có phải rất nhạy cảm? Cũng có thể sau khi đọc xong văn bản của Chính phủ Liên Xô mà Molotov vừa trao, ông sẽ có cách nghĩ mới, lúc đó sẽ trao đổi ý kiến.

Molotov trả lời: Ông đương nhiên mong muốn trong thời gian hội nghị Genève, những trao đổi ý kiến của ông với đoàn Mỹ không chỉ ở cuộc họp chính thức mà còn có cả trao đổi riêng. Ông mong muốn thấy cả Mỹ và Liên Xô đều phản đối thực thi chính sách chủ nghĩa thực dân kiểu cũ ở Đông Dương. Vì vậy, điều quan trọng là lắng nghe ý kiến của cả hai phía. Ông còn kiến nghị Dulles nên tiếp xúc với Chu Ân Lai.

Dulles nói với Molotov rằng, đối với những vấn đề tại hội nghị Genève, nước Mỹ đã có sẵn phương án.

Sau cuộc nói chuyện kéo dài 30 phút, Molotov xin cáo từ. Ấn tượng của Mỹ về cuộc hội đàm này là: “So với Hội nghị Berlin, tình trạng sức khoẻ của Molotov không còn được như trước. Trước đó không lâu, ông đã một lần bị cảm cúm, sắc mặt xám nhợt, ánh mắt có chút sợ chói. Khi gặp mặt, ông đều rất chân thành nghe từng câu một Dulles. Khi tự mình nói thì rất nghiêm túc, nhưng lại xuất hiện một hai câu thở dài, có khi là hai ba câu. Tay của ông run run trong ống tay áo. Ngoài hai câu nói đùa lúc vừa mới bắt đầu cuộc nói chuyện ra, toàn bộ cuộc nói chuyện đều mang tính hết sức nghiêm túc”.

Cùng ngày, Liên Xô có sự thay đổi về nhân sự. [Kliment Yefremovich] Voroshilov được bầu làm người đứng đầu cao nhất, Malenkov được bầu làm Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, Molotov là Phó Chủ tịch thứ nhất kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, [Nikolai Aleksandrovich] Bulganin và Kaganovich là cũng được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch thứ nhất, lần lượt kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Nội vụ. Khrushev với tư cách là Tổng Bí thư ĐCS Liên Xô, đã gia tăng địa vị của mình.

Ba giờ chiều ngày 27 tháng Tư, Hội nghị Genève về vấn đề Triều Tiên chính thức bắt đầu. Ngoại trưởng Liên Xô Molotov đảm nhiệm cương vị Chủ tịch hội nghị. Khi tuyên bố hội nghị bắt đầu, ông căn cứ vào quyền hành của chủ tịch, đã chọn cho mình ba trợ thủ: Gromyko và Fedorenko của Liên Xô và Sư Triết của Trung Quốc.

Hội nghị bắt đầu, đầu tiên Molotov mời Ngoại trưởng Hàn Quốc là Pyun Yung Tai [Cáp Vinh Thái] lên phát biểu.

Pyun Yung Tai, ở độ tuổi 60, kịch liệt công kích Triều Tiên đã phá vỡ sự ổn định của “giới tuyến 38”, chỉ trích Liên Xô là chỗ dựa của “kẻ xâm lược” này. Những lời nói công kích tại hội nghị bắt đầu như thế.

Pyun Yung Tai nói: “Tôi cảm thấy vô cùng đau buồn. Tôi không nghĩ rằng sẽ hội kiến người anh em Bắc Triều Tiên của mình ở một hội nghị quốc tế như thế này, mà anh ta lại ở một phe khác.” Vị ngoại trưởng có tài năng ngôn ngữ siêu phàm này trong lời nói đã liên tiếp dùng những câu tu từ: “Hơn 4.000 năm qua, chúng ta, nhân dân miền Nam và miền Bắc cùng chung một quốc gia, trong người cùng chảy chung một dòng máu, nói cùng một thứ ngôn ngữ, theo đuổi cùng mục đích, còn có tâm lý dân tộc tương đồng và có cùng lợi ích dân tộc, sự tôn nghiêm dân tộc. Trong 40 năm dưới sự thống trị của Nhật Bản, chúng ta giống như một người đồng lòng chống lại sự xâm lược của Nhật, vui buồn cùng nhau. Nhưng hôm nay, Triều Tiên bị phân chia bởi “giới tuyến 38”! Pyun Yung Tai than vãn.

Ngoại trưởng Pyun Yung Tai sinh năm 1892 tại Seoul, Triều Tiên, một đời gắn chặt với văn hóa Trung Quốc. Ông học trung học cơ sở tại Đông Bắc Trung Quốc, sau đó bị gián đoạn phải về nước. Năm 1916, ông lại đến Trung Quốc, học một năm tại Đại học Hiệp Hòa. Từ đó về sau, ông trở về Triều Tiên làm giáo viên tiếng Anh trong 24 năm. Năm 1945, ông trở thành một chính trị gia. Từ năm 1951-1955 ông làm Ngoại trưởng Hàn Quốc.

Pyun Yung Tai không quên công kích Trung Quốc trong lời nói của mình: “ĐCS Trung Quốc coi Liên Xô là “phụ quốc” [nước cha mẹ] của mình mà thần phục, nếu Trung Quốc độc lập thì vì sao họ lại tham gia vào chiến tranh Triều Tiên? Hiện nay, hoàn cảnh của ĐCS Trung Quốc cũng giống như hoàn cảnh của Liên Xô cách đây 20 năm. Nhiệm vụ chính của họ nên là giải quyết các vấn đề trong nước, chứ không phải là mở rộng chủ nghĩa đối kháng với nước ngoài. Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành quả bom trong chiến lược chinh phục quốc tế của Liên Xô.”

Kỳ thực, sự hiểu biết của vị ngoại trưởng cao tuổi này đối với những nhà lãnh đạo Trung Quốc là vô cùng ít ỏi. “Nhất biên đảo” [Ngả về một bên] là kế nhất thời của Mao Trạch Đông trong buổi đầu dựng nước. Từ sau hội nghị Tuân Nghĩa trên đường Trường chinh, quan hệ qua lại giữa hai ĐCS Trung Quốc và Liên Xô luôn mang tính độc lập. Trung Quốc luôn tỏ rõ sự phản đối rõ ràng mà vẫn mềm dẻo đối với việc Stalin mấy lần can thiệp vào công việc nội bộ ĐCS Trung Quốc. Mao Trạch Đông - người xây dựng nên đất nước Trung Quốc mới càng tự tin rằng, không lâu nữa, vị thế của Trung Quốc trong những công việc quốc tế sẽ ngang bằng với Liên Xô. Ông quyết không phục tùng những chiến lược của Liên Xô. Ngược lại, Mao Trạch Đông lại mong muốn nhìn thấy địa vị “trung tâm cách mạng” của Trung Quốc.

Những hiểu biết hoang đường của Pyun Yung Tai về lịch sử đương đại của Trung Quốc lại tiếp tục được thể hiện: “Chính ngay trước khi chiến tranh Trung-Nhật kết thúc không lâu, quân xâm lược Nhật Bản không hề cho chiếc máy bay nào oanh tạc Diên An – đây là thủ đô quân Đỏ nằm liền kề khu vực Nhật Bản chiếm lĩnh - mà lại cho hơn nghìn lượt máy bay oanh tạc khu vực cách xa đó cả nghìn dặm. Đó là Trùng Khánh, nằm sâu trong vùng rừng núi. Lý do này rất rõ ràng, đó chính là cộng sản Trung Quốc từ trước đến giờ chưa từng giao chiến với quân Nhật, mà chỉ làm ra vẻ giao chiến với Nhật mà thôi.”

Sự kém hiểu biết về lịch sử nước láng giềng của Pyun Yung Tai đến thế là cùng. Diên An là căn cứ địa của Trung ương ĐCS Trung Quốc trong kháng chiến chống Nhật. Sau khi kháng chiến nổ ra toàn diện, ngày 20/11/1938, hơn mười máy bay quân Nhật đã oanh tạc Diên An lần đầu. Trong hai ngày 20 và 21, máy bay ném bom Nhật đã thả xuống Diên An 159 quả bom, làm 152 quân dân Trung Quốc chết và bị thương, phá hủy 380 ngôi nhà. Rất nhiều trường học bị hủy hoại. Mao Trạch Đông phải tức tốc từ chân núi Phượng Hoàng trong thành Diên An chuyển qua Dương Gia Lĩnh ở ngoại thành. Đến ngày 26/10/1941, Nhật Bản oanh tạc lần cuối thành Diên An. Tổng cộng, máy bay Nhật đã tấn công Diên An 17 lần. Trong thời gian ba năm, Diên An luôn nằm dưới sự uy hiếp của máy bay Nhật.

Luận điệu cơ bản trong phát ngôn của Pyun Yung Tai là muốn Bắc Triều Tiên thừa nhận là “kẻ xâm lược”, muốn quân tình nguyện Trung Quốc rút khỏi Triều Tiên. Ông ta cho rằng “quân LHQ” không nhất thiết phải theo quân Trung Quốc rút khỏi Triều Tiên, Bắc Triều Tiên phải tiến hành bầu cử dưới sự giám sát của LHQ, trong Quốc hội Nam Triều Tiên đã để ra 100 ghế trống, chỉ đợi Bắc Triều Tiên bầu cử và chọn ra các nghị sĩ là được.

Ngoài ra, phát ngôn của Pyun Yung Tai không đề cập đến phương án cụ thể, mà nội dung chính là Trung Quốc trước tiên phải rút quân khỏi Triều Tiên, sau đó là giải quyết vấn đề thống nhất Triều Tiên trong khuôn khổ LHQ.

Sau phát ngôn của Pyun Yung Tai, Ngoại trưởng Bắc Triều Tiên là Đại tướng Nam Il lên bục phát biểu. Nam Il là đại diện hàng đầu của Triều Tiên trong đàm phán đình chiến ở bán đảo Triều Tiên, nên rất có kinh nghiệm, rất tôn trọng Chu Ân Lai. Phát ngôn của ông đều mời Chu Ân Lai xem qua.

Nam Il trong phát ngôn của mình đã thuật lại tình hình phát triển cũng như những vấn đề của Triều Tiên sau chiến tranh đến nay, và cả quan hệ với Liên Xô v.v.. Trọng tâm trong phát ngôn của ông là “thả tù binh, rút quân, tổng tuyển cử”: tức là: “quân LHQ” nhanh chóng giải phóng hơn 48 nghìn tù binh trong chiến tranh Triều Tiên vẫn còn đang bị giam hãm, tất cả quân đội các nước khác phải rút khỏi Triều Tiên trong vòng 6 tháng, sau đó tiến hành tổng tuyển cử toàn dân tộc Triều Tiên. Đây chính là phương án đã được quyết định thông qua thương lượng giữa ba nước Liên Xô, Trung Quốc và Triều Tiên.

Vào đoạn kết của phát ngôn, Nam Il đã đưa ra “phương án khôi phục thống nhất quốc gia Triều Tiên và tiến hành bầu cử tự do toàn Triều Tiên”. Phương án bao gồm ba điểm:

  1. Đề nghị Chính phủ Bắc, Nam Triều Tiên:

    1. tiến hành bầu cử Quốc hội trên toàn bán đảo Triều Tiên, để thành lập một Chính phủ Triều Tiên thống nhất.

    2. Để chuẩn bị cho bầu cử tự do, hai miền Nam, Bắc Triều Tiên tự chọn ra các đại biểu của mình tham gia “Ủy ban liên Triều”.

    3. Ủy ban liên Triều sẽ soạn ra dự thảo luật bầu cử để tránh sức ép của các địa phương và sự can thiệp của nước ngoài.

    4. Ủy ban liên Triều sử dụng những biện pháp khẩn cấp để phát triển mối quan hệ kinh tế và văn hóa của hai miền Nam, Bắc bao gồm: kinh tế, tài chính kế toán, vận tải, quan hệ biên giới song phương, cư dân tự do qua lại và tự do gửi thư, giao lưu khoa học và văn hóa.

  1. Cho rằng tất cả các lực lượng vũ trang nước ngoài nhất thiết phải rút quân trong vòng 6 tháng.

  2. Cho rằng những quốc gia quan tâm đặc biệt tới việc bảo vệ hòa bình khu vực Viễn Đông nhất thiết phải bảo đảm sự phát triển hòa bình của Triều Tiên, và tạo điều kiện để thúc đẩy hòa bình thống nhất của Triều Tiên.

Lập trường của Triều Tiên và Hàn Quốc có khoảng cách rất lớn. Chu Ân Lai ngồi trên hội trường chỉ nghe mà không nói. Thỉnh thoảng, ông quay sang Trương Vấn Thiên, Vương Gia Tương và Lý Khắc Nông nói gì đó.

Sau phát ngôn của hai bên Nam, Bắc Triều Tiên, Ngoại trưởng Colombia [Eduardo Zuleta] Angel lên phát biểu. Ông nêu rõ: “Các nước nhỏ trên thế giới sẽ không có đủ lực lượng vũ trang để tự bảo vệ mình. Vì vậy, họ rất xem trọng luật pháp quốc tế và tích cực ủng hộ những điều khoản có thể đảm bảo an ninh trong luật quốc tế”. Với ý nghĩa này, ông nhấn mạnh vai trò của LHQ, cho rằng bầu cử Triều Tiên nên được tiến hành dưới sự giám sát của LHQ. Angeo đã đưa ra ba nguyên tắc giải quyết vấn đề Triều Tiên:

  1. Hội nghị Genève về vấn đề Triều Tiên cần phải thông qua phương thức hòa bình để tiến xây dựng một nước Triều Tiên thống nhất, độc lập và dân chủ.

  2. Để đạt được mục đích này, nhất thiết phải tiến hành bầu cử tự do để có thể phản ánh rõ nét nguyện vọng của nhân dân.

  3. Bầu cử nhất thiết phải được tiến hành dưới sự giám sát của LHQ.”

Hội nghị họp đến hơn 6 giờ thì kết thúc, đại biểu các nước lần lượt rời khỏi hội trường. Không khí trong ngày đầu làm việc vừa trang trọng vừa căng thẳng. Sự đối địch giữa hai phe Đông, Tây được thể hiện rõ. Trong bầu không khí đối địch này, làm thế nào có thể có được kết quả tích cực tại hội nghị Genève?

Ô tô chở đoàn đại biểu Trung Quốc về nơi ở, trên đường trở về đi qua một viện bảo tàng các dụng cụ cổ. Tại đây, mọi người có thể thấy các đồ gia dụng cổ, tranh thủy tinh màu và binh khí cổ. Viện bảo tàng này được cải tạo từ một kho đạn cũ của quân đội. Hành lang trên mặt tiền viện bảo tàng có đặt ba khẩu pháo cổ, được đúc từ năm 1680. Cách ba khẩu pháo này một con phố là tòa thị chính, nơi đã ký “Công ước Genève” đầu tiên năm 1863, với nội dung khoan hồng các tù binh. Có lẽ cũng vì nguyên nhân này mà rất nhiều người khi đến đây đều cắm một bông hoa tươi vào trong nòng pháo.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss