Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Tài liệu / Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954 / CHƯƠNG 11 - CƠ HỘI BẮT TAY ĐÃ MẤT

CHƯƠNG 11 - CƠ HỘI BẮT TAY ĐÃ MẤT

 

CHƯƠNG 11

CƠ HỘI BẮT TAY ĐÃ MẤT

 

Ngày 27 tháng Tư, Dulles và Chu Ân Lai lần lượt phát biểu tại Hội nghị Genève. Đây là “cuộc giao chiến” trực diện đầu tiên của hai Ngoại trưởng Mỹ - Trung tại một hội nghị quốc tế. Mặc dù hai bên đối kháng mỗi người một hướng, nhưng mong muốn của Chu Ân Lai lại là tìm kiếm con đường giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng hòa bình, nên ông sẽ không bỏ qua cơ hội bắt tay đối thủ.

 
Ngày 28 tháng Tư, bầu trời trong xanh. Dường như tại bất kỳ đâu trong thành phố Genève đều có thể nhìn thấy đài phun nước nhân tạo khổng lồ đang phun những dòng nước cao trên hồ Leman. Đó là đài phun nước được xây dựng vào năm 1891. Khi trời trong xanh không một gợn mây, đài phun nước có thể phun cao đến 140m. Nước hồ khi được phun cao tới đỉnh điểm sẽ trở thành một vòng tròn nước. Dưới ánh sáng mặt trời, vòng tròn đó sẽ tạo thành cầu vồng bảy sắc tỏa sáng. Chu Ân Lai rất thích đài phun nước này. Ngày hôm đó, khi đi ô tô vào thành phố, ông đã dừng lại ngắm đài phun nước khá lâu.

Sáng hôm đó, Chu Ân Lai, Trương Văn Thiên, Vương Gia Tường, Lý Khắc Nông đã tham quan hội trường diễn ra Hội nghị Genève ở Cung Vạn Quốc. Họ đã từng dự họp tại Cung Vạn Quốc, nhưng do tiến trình của hội nghị đã thu hút toàn bộ sự chú ý nên Chu Ân Lai và đoàn tùy tùng không có ấn tượng lắm với Cung Vạn Quốc cũng như các cảnh vật xung quanh.

Cung Vạn Quốc là một tòa cung điện nguy nga màu vàng kem, nằm trong Công viên Ariane trên một ngọn đồi bên hồ Leman, diện tích cung khoảng 25 hecta. Công viên vốn là gia sản của một dòng họ lâu đời ở đây. Năm 1800 được di chúc tặng lại cho thành phố Genève. Chủ nhân công viên là Gustav đã để lại ba di ngôn: Công viên được đặt tên theo tên mẹ đẻ của ông phải được mở cho công chúng; phần mộ của bản thân ông trong công viên không bị quấy rầy; theo chủ nghĩa lãng mạn truyền thống, công viên phải có chim công. Cả ba điều này đều đã được thực hiện. Ngày 28/4/1919, Hội nghị hòa bình Paris tuyên bố Genève trở thành nơi đặt trụ sở của hội “Quốc liên”. Tin tức được truyền đi, tiếng chuông tại tất cả các giáo đường ở Genève cùng vang lên trong đêm. Mọi người chúc mừng công cuộc xây dựng Genève bước vào giai đoạn mới.

Cung Vạn Quốc được xây dựng từ năm 1929 đến năm 1936, do năm người phụ trách thiết kế. Tòa nhà nằm ngay bờ phải hồ Leman. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, nơi đây là vốn là trụ sở hội Quốc liên. Năm 1946, nó trở thành văn phòng của LHQ tại Genève và còn được gọi là tổng hành dinh của LHQ tại châu Âu.

Địa thế của Cung Vạn Quốc rất thoáng đãng, với cỏ xanh bát ngát. Những cây tùng cổ thụ trên trăm năm tuổi tỏa bóng mát rượi. Chính giữa, phía trước tòa nhà là một hồ nước. Hồ được gọi là hồ quyên góp là vì được Cao ủy LHQ về người tị nạn dùng để quyên tiền. Dưới đáy hồ có vô số những đồng tiền xu khác nhau do du khách ném xuống, chúng tỏa ra ánh bạc sáng lấp lánh. Ngay bên trái thảm cỏ xanh, nằm giữa có một quan tài đá nhìn không nổi bật lắm. Đó chính là lăng mộ của Gustav - chủ nhân trước kia của công viên.

Đối với những vết tích lịch sử còn lưu lại của châu Âu, Chu Ân Lai đã xem đặc biệt kỹ. Ông vô cùng yêu quý tổ quốc mình, tràn đầy hy vọng mong muốn đưa nước Trung Quốc mới tiến vào LHQ trong những năm của nửa sau thế kỷ XX. Ông đứng trước đại sảnh tòa nhà Quốc liên, nói với các chiến hữu của mình rằng: hiện nay, LHQ không cho chúng ta gia nhập. Chúng ta không sợ. Chúng ta sớm muộn gì cũng sẽ gia nhập LHQ!

Chu Ân Lai rất hứng thú tham quan, quan sát rất chăm chú. Chính tại trước cửa Cung Vạn Quốc, khi Chu Ân Lai xuống xe đã làm “kinh động” đến mấy nhà báo đang ngả lưng trên bậc thềm để đợi chụp ảnh. Bọn họ nghe thấy tiếng động liền bất dậy, tranh nhau chụp những hoạt động của Chu Ân Lai. Phiên dịch Lý Việt Nhiên phát hiện một nhà báo nghĩ rằng mình đã chụp được những cảnh tốt nên ôm máy ảnh hôn không ngừng, phát ra cả tiếng kêu.

Sáng hôm ấy, Molotov đã hội kiến Bidault tại nơi ở, thảo luận tỉ mỉ trình tự hội nghị thương lượng vấn đề Đông Dương và danh sách các đại biểu tham dự hội nghị.

Đối với Molotov, một trong những mục tiêu quan trọng của đoàn đại biểu Liên Xô tham gia Hội nghị Genève lần này là ngăn chặn nước Pháp, không cho Pháp gia nhập NATO do Mỹ đứng đầu. Liên Xô không mong muốn đối đầu Mỹ cùng lúc trên cả hai chiến trường tại châu Á. Trọng điểm chiến lược của họ trước sau đều là châu Âu. Liên Xô đã thu được không ít lợi lộc từ chiến tranh Triều Tiên, song cũng tiêu hao hàng loạt vật tư cho chiến tranh, nên chỉ có thể tồn tại khả năng là giải quyết một cách hòa bình vấn đề Triều Tiên. Liên Xô mong muốn nắm bắt thật chặt cơ hội này.

Khi ngoại trưởng hai nước gặp mặt, Bidault nói với Molotov rằng, trước khi quyết định đoàn đại biểu nước nào tham gia thảo luận vấn đề Đông Dương, trước tiên phải để cho các thương binh Pháp rút khỏi Điện Biên Phủ, nếu không sẽ là vô nhân đạo, vì tình trạng của các thương binh Pháp trong vòng vây tại Điện Biên Phủ làm người khác phải lo lắng.

Molotov trả lời rằng, ông đồng ý là nên nhanh chóng giải quyết vấn đề đưa thương binh ra khỏi Điện Biên Phủ, và chủ trương đại biểu các nước có liên quan nên lập tức cùng mở cuộc họp thương lượng, càng nhanh càng tốt. Ông nói tiếp, thông cáo của Hội nghị Berlin không quy định điều kiện tiên quyết nào khi tham gia Hội nghị Genève, mà chỉ nêu ra rằng ngoài năm nước lớn, nên có đại biểu các quốc gia khác cùng tham gia. Điều này đương nhiên bao gồm cả đại biểu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DCCH).

Bidault phút chốc nghẹn lời, nói, vấn đề này còn phải về nghiên cứu.

Thì ra, Thủ tướng Pháp Laniel miệng nói rằng ông đồng ý đàm phán với Hồ Chí Minh, nhưng trong thâm tâm, ông ta không hề muốn tiếp xúc trực tiếp với Hồ Chí Minh, chứ đừng nói đến đàm phán trực tiếp. Laniel lật lọng, chỉ thị cho Bidault chủ yếu nên đàm phán với Liên Xô, thông qua Liên Xô truyền đạt yêu cầu của nước Pháp tới đồng minh của Liên Xô là Việt Nam. Ông cho rằng, Liên Xô lúc này cũng chạy theo nước Pháp trong các vấn đề châu Âu. Laniel và Bidault lại có cùng một cách nghĩ rằng: tại Genève, ngoài việc giao lưu với Molotov, còn phải đàm phán với Trung Quốc, chỉ khi Trung Quốc nhượng bộ trong việc viện trợ Việt Nam thì mới có khả năng giải quyết lần cuối các vấn đề Đông Dương. Nhưng, Bidault tham gia hội nghị mới mấy ngày đều rất thận trọng, ông vẫn chưa thể hiện rõ với Molotov rằng mình muốn tiếp xúc với Chu Ân Lai.

Lúc 3 giờ 5 phút chiều ngày 28 tháng Tư, Hội nghị Genève tiếp tục tiến hành thảo luận vấn đề Triều Tiên, đến lượt Eden làm chủ tịch luân phiên của hội nghị.

Đại biểu Mỹ, Dulles, đã phát biểu rất dài. Ông ta không đưa ra phương án cụ thể để giải quyết vấn đề Triều Tiên, mà quay lại nguyên do của vấn đề Triều Tiên để đả kích phe phương Đông. Ông nói về vấn đề Triều Tiên:

Chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng, các mối quan hệ tại đây không chỉ là vì Triều Tiên (mặc dù điểm này là quan trọng nhất). Sự tồn tại của các mối quan hệ là quyền uy của LHQ, nhớ được điểm này là rất quan trọng. LHQ gánh trên vai trách nhiệm chủ yếu của mình, đó là để Triều Tiên trở thành một quốc gia tự do và độc lập. LHQ trợ giúp xây dựng nước Đại Hàn Dân Quốc và đã giúp đỡ rất nhiều. Khi kẻ xâm lược uy hiếp đến sự sinh tồn của Đại Hàn Dân Quốc, thì cũng chính LHQ đã kêu gọi các nước thành viên bảo vệ Triều Tiên.

Đề án của ĐCS Bắc Triều Tiên yêu cầu quân đội nước ngoài tại đó trong vòng sáu tháng phải rút quân khỏi lãnh thổ Triều Tiên. Quân LHQ đã vì nơi này mà đi một đoạn đường dài. Trong khi đó, quân đội Trung Quốc chỉ cần đi vài dặm là đến, nên bọn họ có thể lập tức quay về. Mỹ cũng không muốn để quân của mình lưu lại Triều Tiên vô hạn định, nhưng chúng ta cần phải nhớ bài học rút quân quá sớm ra khỏi Triều Tiên trước kia, chúng ta không mong muốn lịch sử lặp lại. Đối với đề án của Bắc Triều Tiên, nước Mỹ nhất quyết phản đối, vì nó không thể đáp ứng yêu cầu xây dựng một Triều Tiên tự do, thống nhất và độc lập. Vì một Triều Tiên như vậy, mọi người đã phải hy sinh biết bao xương máu, chịu đựng biết bao gian khổ.

Trong ngôn từ của Dulles tràn đầy những từ ngữ chiến tranh lạnh. Những người có chút trải nghiệm là có thể nghe hiểu, sự phân chia Triều Tiên chính là sản phẩm của sự đối kháng giữa Liên Xô và Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Dulles yêu cầu: đặt vấn đề Triều Tiên vào trong khuôn khổ LHQ để giải quyết; Triều Tiên tiến hành bầu cử dưới sự giám sát của LHQ. Ông ta lấy lý do là Nam Triều Tiên đã từng tiến hành tổng tuyển cử nên yêu cầu LHQ tiếp nhận Hàn Quốc làm nước thành viên.

Sau khi tiếng nói của Dulles vừa ngừng, đại biểu Trung Quốc là Chu Ân Lai lên bục phát biểu. Đây là “cuộc giao tranh” mặt đối mặt lần đầu tiên giữa Ngoại trưởng Trung Quốc mới với Ngoại trưởng của Mỹ. Trước khi diễn ra hội nghị, bài phát biểu này ông đã được cân nhắc rất lâu, gọt giũa từng câu từng chữ. Với giọng nói sang sảng, Chu Ân Lai nói: “Hội nghị Genève mà toàn thể nhân dân thế giới kỳ vọng đã được khai mạc. Mục đích của hội nghị lần này là làm dịu tình hình căng thẳng trên trường quốc tế, củng cố hòa bình thế giới”.

Chu Ân Lai nói: ngoại trưởng năm nước lớn cùng các ngoại trưởng của những quốc gia liên quan “ngồi lại với nhau để thẩm tra và giải quyết những vấn đề bức thiết nhất của châu Á, đây là một hội nghị đầu tiên như vậy. Nhiệm vụ của chúng ta rất phức tạp. Nhưng khi hội nghị này được tổ chức, bản thân nó có nghĩa là khả năng để giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp quốc tế đã tăng lên”. Chu Ân Lai nói, phát ngôn vừa rồi của Dulles là không thể chấp nhận, “chủ trương của ông ta hoàn toàn đi ngược lại lợi ích của nhân dân châu Á. Chúng ta tuyệt đối không thể đồng ý”.

Chu Ân Lai nói: “hiện nay, chiến tranh Triều Tiên tuy đã dừng lại, nhưng hòa bình ở Triều Tiên vẫn chưa được củng cố, thống nhất ở Triều Tiên vẫn chưa được thực hiện. Những vấn đề khác liên quan đến vấn đề Triều Tiên vẫn chưa được giải quyết, mà chiến tranh ở Đông Dương vẫn đang tiếp diễn. Nhân dân toàn thế giới đang cảm thấy bất an và hết sức lo lắng trước tình trạng này. Họ hy vọng rằng thông qua hội nghị lần này có thể làm thay đổi được tình trạng trên - để vấn đề Triều Tiên được giải quyết một cách hòa bình, khôi phục lại hòa bình ở Đông Dương".

Trong phát ngôn của Chu Ân Lai có nói đến vấn đề vì sao Trung Quốc tham gia vào chiến tranh Triều Tiên? Đó là vì Trung Quốc thấy quân đội Mỹ đã vượt khỏi “giới tuyến 38”, áp sát sông Áp Lục, đe dọa an ninh của Trung Quốc. “Rõ ràng, Mỹ đang áp dụng trò cũ của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản - kẻ xâm lược Triều Tiên năm đó - để xây dựng căn cứ địa nhằm xâm lược đại lục Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc dựa vào bài học lịch sử đau xót này, cùng những lợi ích thiết thân trước mắt nên không thể nhẫn nhịn được nữa, mới tình nguyện viện trợ cho Triều Tiên”.

Hiện nay, đã đến thời điểm sắp xếp cho Triều Tiên sau chiến tranh. Chu Ân Lai nói, về vấn đề Triều Tiên, rút quân là mấu chốt. “Ngay từ ngày đầu tiên đàm phán về Triều Tiên, chúng tôi đã chính thức kiến nghị rút toàn bộ quân đội nước ngoài khỏi Triều Tiên. Hiện nay, Triều Tiên đã đình chiến, nên quân đội nước ngoài càng không có lý do gì để ở lại Triều Tiên”.

Chu Ân Lai khẳng định lại lập trường cơ bản của ngoại giao Trung Quốc: “Chúng tôi tôn trọng sự lựa chọn của nhân dân các nước, tôn trọng quyền không thể xâm phạm của họ trong việc duy trì những phương thức sống cũng như cùng chế độ quốc gia riêng của mình. Đồng thời, chúng tôi cũng yêu cầu các quốc gia khác đối xử với chúng tôi bằng thái độ như vậy. Chỉ cần các nước trên thế giới đều tuân thủ những nguyên tắc này, và cùng có ý nguyện hợp tác với nhau thì tôi cho rằng, các quốc gia trên thế giới tuy có chế độ xã hội khác nhau nhưng đều có thể chung sống hòa bình.”

Đây là lần đầu tiên Chu Ân Lai trình bày và phân tích tư tưởng “chung sống hòa bình” trên diễn đàn quốc tế, ông ủng hộ ba kiến nghị của Nam Il.

Nhắc đến vấn đề Đài Loan, ông nói: “Từ khi chiến tranh Triều Tiên bắt đầu, lãnh thổ Đài Loan của Trung Quốc đồng thời cũng bị Mỹ chiếm đóng. Vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được giải quyết. Mọi người đều biết, Đài Loan là lãnh thổ của Trung Quốc, quyết không cho phép ai xâm chiếm. Hành vi xâm chiếm Đài Loan của Mỹ đã phá hoại nghiêm trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Trung Quốc. Hiện tại, Đài Loan đã biến thành cứ điểm của Mỹ nhằm tiến hành các hoạt động phá hoại và tiến thêm một bước trong việc xâm lược nước CHND Trung Hoa. Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản từng xâm lược các nước châu Á trong một thời gian dài, nay đang khôi phục nhanh chóng. Tình hình này càng ngày càng đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình và an nình ở Viễn Đông.”

Khi kết thúc bài phát biểu, Chu Ân Lai đã kêu gọi hội nghị Genève: “Tôi hy vọng các đại biểu tham gia hội nghị có đủ bản lĩnh để củng cố lợi ích hòa bình và an ninh châu Á cũng như thế giới, cùng nhau nỗ lực để tìm ra con đường giải quyết những vấn đề bức thiết trong chương trình nghị sự của hội nghị”.1

Tối hôm đó, Dullles đã gửi điện báo về Washington để báo cáo nội dung phát ngôn của Chu Ân Lai. Dulles viết: Chu Ân Lai đã kể lại những thành tựu đã đạt được của nước Trung Quốc mới, rêu rao rằng: “không có bất kỳ lực lượng nào có thể ngăn chặn họ xây dựng một Trung Quốc phồn vinh giàu mạnh. Chu Ân Lai tỏ ý rằng Trung Quốc sẽ không xâm lược các nước khác, cũng quyết không chấp nhận hành vi xâm lược của các nước khác”.

Trong bức điện, Dulles đã tổng kết lại phát ngôn của Chu Ân Lai: “giống như phán đoán, phát ngôn của Chu Ân Lai đề cập đến một loạt vấn đề châu Á và thế giới, và kỳ vọng để lại ấn tượng cho mọi người rằng năm nước lớn và các nước khác liên quan khác đang tiến hành hội nghị giải quyết các vấn đề lớn ở châu Á và trên thế giới. Lời nói của Chu Ân Lai nhấn mạnh PRC (tên viết tắt bằng tiếng Anh của nước CHND Trung Hoa, TG) được quốc tế chú ý và thừa nhận, nhưng lại cố tình không đề cập đến LHQ có thừa nhận hay không. Đa phần lời nói của Chu Ân Lai đều mang đầy những tiêu chuẩn của thuật ngữ mang đậm tính tuyên truyền của ĐCS, và nội dung so với những người đi trước thì Chu Ân Lai có thể có những thay đổi nhỏ trong tư tưởng. Những lời nói của Chu Ân Lai có sức thu hút rất mạnh đối với các quốc gia châu Á. Lúc nói thì đặc biệt chú ý đề cập đến vấn đề phải rút quân nước ngoài khỏi Triều Tiên, chỉ trích Mỹ chiếm đóng Đài Loan, và thể hiện rằng ĐCS Trung Quốc đặc biệt nhạy cảm về vấn đề này. Cả bài phát biểu cho thấy chính sách của PRC không lỏng lẻo chút nào.

Ngày hôm đó, cuộc “giao chiến” mặt đối mặt giữa hai Ngoại trưởng Mỹ - Trung đã làm cho Dulles ấm ức ra về. Sau hội nghị Genève, ngoại giao trên thế giới có sự chuyển biến lớn. Vào ngày Dulles và Chu Ân Lai lần lượt lên phát biểu, hai nhà lãnh đạo không chỉ công kích nhau kịch liệt trong hội nghị, mà thậm chí ở ngoài hội nghị còn xảy ra chuyện Dulles từ chối bắt tay Chu Ân Lai.

Người chứng thực việc trong thời gian diễn ra hội nghị Genève đã từng xảy ra chuyện Dulles từ chối bắt tay Chu Ân Lai, là đại sứ Mỹ tại Tiệp Khắc A. Johnson, một thành viên quan trọng của đoàn đại biểu Mỹ. Johnson đã viết trong cuốn hồi ký “Sự tồn tại của quyền lực” dài 204 trang, xuất bản năm 1984, như sau:

Ngay trong giờ giải lao của cuộc họp lần thứ nhất về các vấn đề Triều Tiên2, đã xảy ra một việc ngoài dự liệu. Sự kiện này đã luôn gây khó khăn cho quan hệ hai nước Mỹ - Trung từ đó cho đến những năm sau này. Ngày đó, khi Dulles chuẩn bị bước vào phòng nghỉ giải lao của Cung Vạn Quốc, vừa đúng lúc Chu Ân Lai cũng ở trong đó, nhìn thấy Dulles tiến vào, Chu Ân Lai tiến lại, với phong thái nho nhã thường nhật mỉm cười định bắt tay Dulles. Lúc đó tôi đứng ngay bên cạnh Dulles. Lúc đầu, Dulles không phát hiện ra Chu Ân Lai, đến khi nhìn thấy thì Chu Ân Lai đã tiến đến ngay gần. Dulles chuyển ánh mắt sang những phóng viên ảnh đang đợi chụp được một bức ảnh tượng trưng cho sự hòa giải, rồi rất nhanh quay lưng lại đi ra, không thèm quan tâm đến cánh tay mà Chu Ân Lai đưa ra. Tôi luôn cảm thấy, rõ ràng là hành vi thô lỗ đã có tính toán này, mâu thuẫn với cách làm quen thuộc của Dulles. Nhưng chính xác là ông ta đã có suy nghĩ rồi. Một khi bức ảnh này được đưa lên trang nhất các báo thì sẽ ảnh hưởng đến chính trị, cũng như các phần tử cứng đầu trong Quốc hội Mỹ. Vấn đề này rất nhạy cảm đối với chính trị trong nước Mỹ, nên đã dẫn đến hành động không bình thường của Dulles. Chu Ân Lai từ trước đến giờ không hề quên chuyện này. Ông thường kể với các nhà báo về việc này, vì thế mà mang lại ấn tượng buồn cho mọi người.3

Trong những năm tháng sau này, Johnson đã nhiều lần khẳng định chuyện này với các đồng nghiệp trong chính phủ. Khi chấp nhận phỏng vấn, ông vẫn nhiều lần khẳng định và tự thuật lại, và tỏ ý rằng không thể lý giải tại sao Vương Bỉnh Nam lại phủ nhận chuyện này. Chịu ảnh hưởng của ông ta, thành viên Ủy ban an ninh Tổng thống Mỹ thời Nixon là Kissinger trong nhật hồi ký của mình cũng viết rằng: “Khi bắt đầu hội nghị ở Genève đã xảy ra một chuyện ngoài ý muốn. Dulles đã từ chối bắt tay Chu Ân Lai. Đối với chuyện này, người Trung Quốc đương nhiên không quên, cũng sẽ không bỏ qua. Bởi vì sau này, sau khi Kissinger bí mật thăm Trung Quốc năm 1971, Hoàng Hoa vẫn nhắc đến chuyện này với ông.”

Trong một tác phẩm xuất bản của Trung Quốc, đồng quan điểm với Johnson có phu nhân của Ký Triều Chú – bà Uông Hướng Đồng. Bà đã xuất bản cuốn “Chồng tôi - Ký Triều Chú”, trong đó viết:

Trong toàn bộ thời gian diễn ra hội nghị, đại biểu Mỹ dường như coi đại biểu Trung Quốc về cơ bản không tồn tại. Trưởng đoàn đại biểu Mỹ là Dulles lúc đó đã ra lệnh cho các thành viên trong đoàn của mình không được phép bắt tay các thành viên đoàn đại biểu ĐCS Trung Quốc. Khi Thủ tướng Chu Ân Lai ở phòng giải lao để đợi vào hội trường, Dulles vốn không biết có những ai ở trong phòng. Vì thế mà ông đẩy cửa vào. Thủ tướng nhìn thấy Dulles tiến vào, liền chuẩn bị bước lên trước bắt tay với ông ta, Dulles vừa nhìn thấy thủ tướng liền lập tức quay đầu bước đi. Nhưng Phó Trưởng đoàn đại biểu Mỹ là Tướng Smith lại cảm thấy hành động này của Dulles rất không bình thường. Ông cho rằng cho dù là địch thủ thì sau khi đình chiến hai bên cũng có thể bắt tay. Vì vậy, ông đi đến bên cạnh Chu Ân Lai, do Dulles đã ra lệnh không được phép bắt tay đối phương, nhưng ông vẫn đưa tay ra với Thủ tướng Chu Ân Lai, dùng tay ôm lấy vai của Thủ tướng.

Nhưng bản thân Uông Hướng Đồng lại không tham gia hội nghị Genève năm đó. Nhật ký của bà lại là kể lại qua hồi ức.

Tham gia Hội nghị Genève năm đó, trợ lý của người phát ngôn báo chí Hoàng Hoa, sau này đảm nhiệm chức Phó Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, kiêm Trưởng phòng phòng nghiên cứu nước Mỹ, là Lý Thận Chi đã nói với tác giả cuốn sách về chuyện này rằng: Tại hội nghị, ông không chứng kiến điều mọi người kể lại là sự kiện “bắt tay”, nhưng sau đó lại được nghe rất nhiều về chuyện đó. Lý Thận Chi cho rằng, trong thời gian diễn ra Hội nghị Genève, nếu Dulles và Chu Ân Lai có gặp mặt nhau, thì với lòng can đảm cùng sự hiểu biết lễ nghĩa của Chu Ân Lai, việc ông tiến lên một bước giơ tay ra để chuẩn bị bắt tay Dulles là hoàn toàn có khả năng.

Lý Thận Chi cho rằng, Chu Ân Lai có đưa tay ra với Dulles hay không vẫn chỉ là vấn đề phán đoán của người Mỹ. Chu Ân Lai từng ngã ngựa bị thương tại Diên An, gãy xương cánh tay phải, chữa trị vẫn chưa hoàn toàn khôi phục, nên cánh tay phải không thể giơ thẳng ra. Vì thế tay phải của ông luôn cong cong để ở ngang eo. Những người không thân thuộc với Chu Ân Lai rất dễ nhìn trạng thái cánh tay phải của ông thành ra như đang chuẩn bị bắt tay đối phương.

Mấy vị trợ thủ quan trọng của Chu Ân Lai năm đó đều phủ nhận khả năng Chu Ân Lai từng giáp mặt Dulles tại Cung Vạn Quốc. Trong hồi ký “Nhìn lại chín năm hội đàm Trung-Mỹ” của Vương Bỉnh Nam – Bí thư trưởng, đoàn đại biểu Trung Quốc - xuất bản năm 1985, tác giả đã viết:

Có người nói rằng trong thời gian tại Genève, Thủ tướng Chu Ân Lai đã định bắt tay với Dulles, nhưng bị Dulles từ chối. Trên thực tế, chuyện này không xảy ra. Trong cả quá trình diễn ra hội nghị, tôi luôn ở bên cạnh thủ tướng. Khi hội nghị bắt đầu, mỗi lần đều là tôi hộ tống thủ tướng tiến vào hội trường. Trước đó, tôi đều hiểu rất rõ là đi từ cửa nào vào, vị trí ngồi tại đâu. Tôi đi trước dẫn đường, Thủ tướng và các thành viên đoàn đại biểu theo tôi đi thẳng đến vị trí của mình. Vị trí trong hội trường được sắp xếp theo thứ tự chữ cái tiếng Anh đầu tiên của nước mình. Trung Quốc là China, chữ C, nên đứng đầu; nước Mỹ là USA, chữ U, nên đứng sau, cùng với đại biểu Liên Xô; cách xa vị trí của chúng tôi. Phòng họp có đến mấy cửa ra vào. Chúng tôi và đoàn đại biểu Mỹ không cùng một cửa tiến vào hội trường, nên không thể gặp nhau. Giữa hội nghị có 15 phút nghỉ giải lao, thành viên đoàn đại biểu có thể đến nhà ăn, quầy rượu để ăn chút điểm tâm, uống café, trà hoặc rượu. Đoàn đại biểu chúng tôi từ đầu chí cuối không ngồi chung với đoàn đại biểu Mỹ. Hơn nữa, lúc đó Thủ tướng rất thận trọng và nghiêm túc. Dulles là kẻ kiên quyết đối đầu, nên ông không muốn bắt tay ông ta. Vì vậy dù là chủ quan hay khách quan, đều không tồn tại khả năng thủ tướng chủ động đi bắt tay để bị từ chối.

Lý do của Vương Bỉnh Nam rất thuyết phục, nhưng không rõ lý giải của ông có phải nhằm vào hồi ức của Johnson hay không. Nếu nói rộng ra một chút thì có thể khi ông viết đoạn này đã là 30 năm sau đó, rất nhiều hồi ức đã bị thời gian bào mòn. Ngoài ra, Chu Ân Lai có đưa tay ra để bắt tay Dulles hay không, ông còn phải xem xét, vì Vương Bỉnh Nam cùng trong một quyển hồi ký đã viết tiếp như sau:

Tất nhiên là trong tình hình đối địch, nhưng không thể tuyệt đối không bắt tay. Tôi nhớ lại trước kia cũng từng xảy ra một chuyện không vui tại đấy. Một sĩ quan Mỹ đóng tại Đan Mạch uống rượu tại một câu lạc bộ. Ông ta chủ động tiến tới bắt tay một sĩ quan ta, nhưng bị từ chối khiến ông ta rất lúng túng, người Mỹ cũng rất ngượng về chuyện này. Chuyện này được báo lại cho Bộ Ngoại giao và chính tôi đã xử lý. Sau đó, lãnh đạo bộ đã nghiên cứu và xin ý kiến xử lý của Thủ tướng, đồng thời quy định rằng, về sau nhân viên ngoại giao không được cứng nhắc như vậy ở những nơi công cộng. Thứ nhất, chúng tôi không chủ động bắt tay người Mỹ. Thứ hai, nếu họ chủ động bắt tay thì vì lễ nghĩa, chúng tôi sẽ không từ chối.

Như vậy mà nói, về vấn đề “bắt tay”, luôn là phía Trung Quốc từ chối trước, vì khi đi dự Hội nghị Genève đã soạn sẵn phương án.

Trong những người tham gia Hội nghị Genève, có Hùng Hướng Huy, về sau đảm nhận chức Trợ lý Thủ tướng, cũng đồng ý với cách nói của Vương Bỉnh Nam. Năm 1997, ông đã viết bài “Về tin đồn Dulles từ chối bắt tay Chu Ân Lai” trên tạp chí “Bách Niên triều” kỳ bốn. Ông nhớ lại: chiều ngày 26 tháng Tư, sau khi tiến hành phiên thứ nhất tại hội nghị Genève, Eden đã đi qua hội trường đến bắt tay Molotov. Lúc đó, Molofov đã giới thiệu Chu Ân Lai đang đứng cạnh mình với Eden, Eden lập tức đưa tay ra cho Chu Ân Lai. Hai vị ngoại trưởng bắt tay nồng nhiệt.

Sau hội nghị ngày hôm đó, các thành viên đoàn đại biểu Anh, đại diện Đại sứ quán Anh tại Bắc Kinh là Trevelyan đã tìm được người quen của ông. Đó là thành viên đoàn đại biểu Trung Quốc, Vụ trưởng Vụ Tây Âu, Châu Phi thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc là Hoạn Hương. Trevelyan nói rằng, Eden nghĩ rằng trước hoặc sau phiên thứ hai, Eden sẽ giới thiệu Chu Ân Lai với Dulles, hai bên sẽ bắt tay thăm hỏi. Nếu Thủ tướng Chu Ân Lai đồng ý, Eden sẽ phái người đi hỏi ý kiến của Dulles.

Hoạn Hương đã xin ý kiến Chu Ân Lai. Chu Ân Lai trả lời rằng ông rất tán thưởng cách nghĩ của Ngoại trưởng Eden. Nếu đã cùng tham dự hội nghị thì về lý nên tiếp xúc với nhau. Ông đồng ý dưới sự giới thiệu của ngài Eden sẽ bắt tay thăm hỏi Dulles.

Đây chính là một tín hiệu quan trọng. Chu Ân Lai có ý muốn mở ra cục diện giằng co trong quan hệ với Mỹ tại Genève. Nếu Dulles chấp nhận đề nghị này, thì những chương sách về quan hệ Trung-Mỹ đã có nhiều trang không giống như bây giờ.

Nhưng, sáng hôm sau Trevelyan tìm đến Hoạn Hương nói rằng ngài Dulles đã thay đổi thái độ, ông ta từ chối bắt tay Chu Ân Lai.

Hùng Hướng Huy nhớ lại: “Có hay không có sự việc Chu Ân Lai chạm mặt Dulles trong thời gian hội nghị, Chu Ân Lai chủ động đưa tay ra, nhưng bị Dulles từ chối? Tôi có thể khẳng định rằng không có.”

Người tham gia Hội nghị Genève năm đó là Lý Việt Nhiên cũng chỉ ra cho tác giả cuốn sách này thấy rằng, lúc đó không có chuyện Dulles từ chối bắt tay Chu Ân Lai.

Vậy mà, việc tự thuật hoặc truyền lại câu chuyện này lại xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm lịch sử ngoại giao. Nó trở thành câu chuyện được nhiều người chú ý trong tiến trình bình thường hóa quan hệ hai nước Mỹ-Trung. Bản thân Chu Ân Lai cũng đã nhiều lần nói đến chuyện này với các khách nước ngoài, thậm chí cũng đã nói từ khi viết báo cáo. Ví dụ, ngày 15/4/1958 tại Hội nghị công tác ngoại giao toàn quốc, ông đã nói: “Chúng ta không thể làm giống như cách làm ngu ngốc của Dulles, đã đến Genève mà còn quy định một điều: không được bắt tay”.

Có thể nói người có ấn tượng sâu sắc nhất về chuyện này chính là Tổng thống Mỹ Nixon. Trong chuyến viếng thăm Trung Quốc lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1972, trên hành trình bay đến Bắc Kinh, ông đã sáu lần nói với những người cùng đi rằng, khi máy bay đáp xuống sân bay thủ đô Bắc Kinh, không ai được theo sát ông đi ra cửa. Ông muốn Tổng thống Mỹ một mình bắt tay Chu Ân Lai, để bù đắp cho sự thất lễ của Dulles năm đó. Ngày 21/2/1972, sau khi Nixon đáp “Air Force 1” xuống sân bay Bắc Kinh, ông đã cùng phu nhân xuống máy bay. Lúc đó, Chu Ân Lai đang đợi ông trong gió lạnh. Nixon trong hồi ký của mình đã viết: “Tôi biết, năm 1954 tại Hội nghị Genève, Dulles đã từ chối bắt tay Chu Ân Lai, làm cho ông cảm thấy xấu hổ. Vì vậy, khi đi hết thang máy bay, tôi quyết tâm vừa đưa tay mình ra vừa đi lại gần Chu Ân Lai. Khi chúng tôi bắt tay nhau, một thời đại đã kết thúc, một thời đại khác được mở ra”. Vào năm 1954, khi diễn ra Hội nghị Genève, Nixon giữ chức Phó Tổng thống Mỹ. Ký ức của ông về việc này hẳn phải có căn cứ.4

Để tìm hiểu kỹ thực hư câu chuyện này, tác giả cuốn sách đã đến tận Kho lưu trữ hồ sơ quốc gia Mỹ để tra cứu hết sức tỉ mỉ, sau đó lại đọc kỹ cuốn “Tập văn kiện quan hệ đối ngoại của Mỹ từ 1952-1954: Tuyển tập văn kiện Hội nghị Genève”, sẵn sàng chịu trách nhiệm với lời nói của mình rằng: không đọc được bất kỳ tài liệu nào có thể chứng minh câu chuyện này đã từng xảy ra.

Kỳ thực, cho dù các chi tiết cụ thể về câu chuyện “bắt tay” có tồn tại hay không, đều không ảnh hưởng đến năng lực, nhân cách của Chu Ân Lai, không làm tổn hại đến hình tượng của Chu Ân Lai, cũng không ảnh hưởng đến phán đoán của mọi người về những chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc. Thái độ của Dulles coi như không có sự tồn tại của đại biểu Trung Quốc đã làm mất đi cơ hội bắt tay giữa Trung Quốc và Mỹ trong Hội nghị Genève. Hai nước lớn Trung-Mỹ tiếp tục ngăn cách và đối kháng cho đến khi Chu Ân Lai và Nixon bù đắp lại những năm tháng ngăn cách đó, thì đã là những năm 70 của thế kỷ XX. Nhìn từ vĩ mô mà nói, Dulles lúc đó đúng là không muốn bắt tay Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, “cách nói” này bản thân nó đã có tính chân thực lịch sử. Vì vậy, sau hội nghị Genève, “bắt tay” dù giả hay thật đã trở thành từ ngữ tượng trưng cho quan hệ Trung-Mỹ.

Khi Chu Ân Lai và Dulles đang đối đầu kịch liệt trên diễn đàn Genève thì tại chiến trường Điện Biên Phủ, tình thế tiếp tục phát triển theo hướng có lợi cho quân đội Việt Nam.

Chiều ngày 2 tháng 4 theo giờ miền Đông nước Mỹ, Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng Mỹ, Thượng tướng hải quân Redford đã từ Châu Âu trở về Washington. Tại sân bay, ông từ chối bình luận về chuyến đi Paris và London, nhưng ông bày tỏ hy vọng nước Pháp có thể cố thủ được tại Đông Dương. Redford nói, tin tức của ông về Điện Biên Phủ đã là của hai ngày trước, nhưng xem ra tình hình đến hôm nay vẫn chưa có thay đổi gì lớn.

Lời nói của ông được đưa ra không lâu thì ngày 28 tháng Tư tại Anh, tờ “The Times” đã đăng tải bức điện báo từ Paris ngày 27 rằng “Điện Biên Phủ bị pháo kích dữ dội”. Bức điện đã báo cáo về tình hình mới nhất tại Điện Biên Phủ:

Điện Biên Phủ trong bốn ngày liền, đã không còn bị bộ binh tiếp tục tấn công nữa, nhưng vẫn liên tiếp chịu sự oanh tạc của những quả đạn pháo 120mm và 105mm của quân đội Việt Minh. Trong khi đó, không quân và hải quân Pháp đã hai ngày liên tiếp oanh tạc tuyến đường vận tải của quân địch từ biên giới Trung Quốc đến Điện Biên Phủ. Những người tình nguyện chi viện cho quân Pháp (chỉ không quân Mỹ - TG) đã lái máy bay ném bom B-26 oanh tạc trận địa pháo phòng không của quân Việt Nam.

Trận địa quân Pháp bị bao vây hôm qua đã được gia cố phòng ngự thêm trong phạm vi gần 5km, vì chiến hào của quân địch đã đào đến gần hàng rào dây thép gai của trận địa Pháp. Dưới sự yểm trợ của hàng loạt đạn pháo, một toán quân tuần tra Pháp đã xuất kích, đi lấp một đoạn chiến hào của quân địch cách trận địa khoảng 50m.

Tối hôm qua, Tư lệnh quân đội Pháp đã phát đi một bức điện báo, phủ nhận việc do nơi thả hàng tiếp viện từ trên không của quân Pháp tại Điện Biên Phủ đã bị thu hẹp, nên hơn nửa số hàng tiếp viện được thả xuống đã rơi vào tay quân địch. Báo cáo nói rằng quân Pháp đã nhận được 88% số lượng đồ cứu viện từ trên không, chỉ có một phần nhỏ rơi vào tay quân địch.

Đêm hôm trước, tại đồng bằng châu thổ sông Hồng, quân du kích Việt Nam đã không tiếc thương vong, chiếm lĩnh được căn cứ gần Phát Diệm.

Không ai biết tại sao quân Việt Minh lại không tấn công Điện Biên Phủ lần 3 sau khi đã yên lặng nhiều ngày. Một cách giải thích là do sự tấn công không quân của quân Pháp và do mấy ngày mưa dầm liên tiếp đã gây cho Võ Nguyên Giáp khó khăn trong vận tải, nhưng nhiều người cho rằng, hành động quân sự của quân Việt Minh phối hợp chặt chẽ với tiến trình hội nghị Genève. Lần tấn công Điện Biên Phủ cuối cùng sẽ là lá phiếu tốt nhất để Việt Minh đối phó với phương Tây trên bàn đàm phán.

Những từ ngữ cuối cùng trong bản báo cáo này rất có lý. Tại chiến trường Điện Biên Phủ cách xa Genève cả ngàn dặm, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc là Vi Quốc Thanh không ngừng nhận được chỉ thị của Chu Ân Lai phát đi từ Genève, yêu cầu ông cố gắng trợ giúp quân Việt Nam, tranh thủ trước khi hội nghị Genève thảo luận vấn đề Đông Dương, nên tiến công chiếm lấy Điện Biên Phủ.

Ngày 23 tháng Tư, quân đội Việt Nam về cơ bản đã chiếm được sân bay Điện Biên Phủ, trọng điểm công kích của Võ Nguyên Giáp là điểm phía Đông, nên để sư đoàn 312 và 316 phụ trách nhiệm vụ tác chiến chủ yếu. Sư đoàn chủ lực 308 nhanh chóng chỉnh đốn và bổ sung, chuẩn bị tiến hành cuộc chiến trong giai đoạn cuối.

Cố vấn Trung Quốc tại Sư đoàn 316 là Từ Thành Công kiến nghị: xét thấy đồi phía đông Điện Biên Phủ do quân Pháp cố thủ rất khó tấn công. Góc độ của lô cốt bê tông cốt thép trên đỉnh đồi nhỏ hẹp, lại thêm sự yểm trợ của pháo binh quân Pháp, nên rất khó phá hủy bằng pháo. Có thể dùng công binh đào một địa đạo từ giữa lưng chừng đồi thẳng đến bên dưới lô cốt quân Pháp, sau đó tập trung toàn bộ thuốc nổ ở tiền tuyến Điện Biên Phủ, đưa xuống địa đạo đặt ngay dưới lô cốt, đợi đến khi tổng tiến công thì cho nổ, có thể làm cho toàn bộ quân Pháp trên đỉnh đồi đó bị tiêu diệt hoàn toàn.

Kiến nghị của Từ Thành Công được Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh tán thành. Bên Việt Nam đề xuất, công binh Việt Nam không có đủ kinh nghiệm, hy vọng công binh Trung Quốc sẽ được điều đến. Vi Quốc Thanh lập tức báo cáo về trong nước, nhanh chóng cử sáu công binh đã có kinh nghiệm chiến đấu tại chiến trường Triều Tiên đến. Sáu công binh Trung Quốc đã đến Điện Biên Phủ vào cuối tháng Tư. Sau khi kiểm tra, dò xét địa hình đã chỉ đạo công binh Việt Nam đào đến lô cốt quân Pháp.

Một đại đội pháo hỏa tiễn Trung Quốc đã đến tiền tuyến, ém quân ngoài vòng vây Điện Biên Phủ, và đã diễn tập tấn công bằng đạn thật cho Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái cùng Trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Như Phu Nhất xem. Tướng lĩnh Việt – Trung quyết định, khi tổng tấn công sẽ dùng pháo hỏa tiễn. Quân Việt sẽ tổng tiến công Điện Biên Phủ vào ngày 30 tháng Tư.

1 Tuyển tập văn kiện Hội nghị Genève, Tri thứcThế giới XBX, 1954, tr. 10-17.

2 nguyên văn: chiều 27/4/1954 – so với múi giờ miền Đông nước Mỹ thì thời gian ở Genève lệch một ngày. TG.

3 A. Johnson, sđd, tr. 204.

4 Hồi ức của Nixon, Thương vụ XBX, 1979, tr. 247-248.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss