Bạn đang ở: Trang chủ Thế giới Góc độ kinh tế của chiến lược an ninh Mỹ - thế đứng của Việt Nam

Góc độ kinh tế của chiến lược an ninh Mỹ - thế đứng của Việt Nam


Góc độ kinh tế của chiến lược an ninh Mỹ
- thế đứng của Việt Nam



Vũ Quang Việt

23 December 2017



Tổng thống Trump vừa công bố chiến lược an ninh quốc gia với mục đích củng cố vai trò của Mỹ trên thế giới. Nhưng nó thất bại vì không giúp gì trong việc củng cố lòng tin của đồng minh, tuy rằng một phần nào đó giúp củng cố an ninh nước Mỹ và hiểu hơn về những bước Trump có thể làm.

Chiến lược này được Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia tướng McMaster soạn thảo trình Quốc hội. Bản báo cáo có nhắc đến cam kết về vai trò của Mỹ trong khối đồng minh NATO, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ đồng minh theo điều số 5, qui định rằng cuộc tấn công bất cứ quốc gia nào trong khối là cuộc tấn công cả khối và mọi nước phải phản ứng, không cần bàn luận thêm. Trump đã không nói tới điều khoản 5 ngay tại diễn văn đọc tại cuộc họp chính thức của NATO năm 2017 và chỉ khẳng định sau đó ở Poland sau phản ứng của các nước NATO khác.

Tuy vậy, trong bài diễn văn của Trump khi công bố chiến lược an ninh quốc gia, Trump lại không đả động gì đến luận điểm trên mà chỉ nhận mạnh đến chiêu bài “Nước Mỹ trên Hết” (America First). Vậy chiến lược an ninh vừa công bố khác với luận điểm lợi ích của nước Mỹ là trên hết ở chỗ nào? Và hướng chiến lược an ninh của Trump là gì?


Chiến lược an ninh theo Trump


Hướng chính là Trump muốn kết hợp các biện pháp kinh tế với an ninh quốc phòng trên 4 nét chiến lược lớn:

(1) Hạn chế hay đóng cửa biên giới với người nhập cư nhằm vào cái gọi là bảo vệ an ninh cho dân Mỹ

Luận điểm này chủ yếu là làm hài lòng thiểu số ủng hộ Trump, cũng có lý một tý nhưng thực tế có thể phản bác lại cái lý trên. Thứ nhất, Trump không thấy rằng đám người khủng bố không nhất thiết là từ nước ngoài vào Mỹ, mà từ ngay trong lòng Mỹ. Những vụ khủng bố vừa qua chứng minh cho việc này. Thứ hai, nước Mỹ phát triển mạnh hơn nước khác cũng và vì lao động nhập cư, đặc biệt lao động tay chân trong nông nghiệp từ Mexico và lao động trí óc từ nhiều nước mà Mỹ không phải mất công đào luyện. Nhập cư làm tăng lực lượng lao động khi lực lượng này đang tăng chậm lại tại Mỹ vì dân số sinh đẻ (mức tăng lao động hàng năm sẽ giảm dần từ 0,5% xuống 0,2%).

(2) Tăng mức sống và sự giàu mạnh của Mỹ

Điều này thì nói dễ hơn làm, vì tăng mức sống sẽ phải dựa chủ yếu vào tăng năng suất lao động. Số lượng lao động dư thừa không còn và tốc độ tăng lực lượng lao động Mỹ đang giảm mạnh.

Giảm thuế cho doanh nghiệp và người giàu với hy vọng là họ sẽ tăng đầu tư. Dù hy vọng này có vẻ hợp lý nhưng rất nhiều nhà kinh tế cho rằng độ đáp ứng về đầu tư do cắt thuế là thấp và cần thời gian dài (từ 3-5 năm) mới tạo kết quả và qua đó mới đẩy mạnh được mức tăng GDP.

Rất nhiều nhà kinh tế kể cả bản thân tác giả cho rằng về dài lâu Mỹ chỉ có thể đạt được mức tăng GDP bình quân năm cao nhất là 3% do dự đoán (của Cục Thống kê Lao động) là lao động sẽ chỉ tăng hàng năm khoảng 0,5% từ nay đến 2025 và sau đó sẽ giảm xuống 0,2%, còn năng suất lao động thì cả Cục Thống kê Lao động và Cục Dữ trữ LB (Ngân hàng TW) đều cho rằng khó có thể hơn 2,5%, vì ảnh hưởng của công nghệ thông tin thời năm 2000 đã cạn kiệt.

Như thế, rõ ràng là dù tăng trưởng ở mức cao nhất 3% hay thậm chí 4% cũng không thể thu thêm thuế để bù đắp thiếu hụt ngân sách Liên bang do cắt thuế suất, đưa đến giảm thu 1.500 tỷ trong 10 năm tới. Mà thiếu hụt hiện nay, khi chưa cắt thuế, đã ở mức 544 tỷ năm 2016. Thiếu hụt ở mức 4% GDP như thế sẽ tạo ra mất ổn định, nhà nước phải tăng nợ, cạnh tranh vốn với khu vực tư nhân.


Hình 1. Cán cân ngoại thương Mỹ bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ 1960-2017 ( Tỷ US)

Nguồn: US Bureau of Economic Analysis

Lợi thế của Mỹ, mà gần như không nước nào có được, là có thể “xuất cảng” nợ chính phủ cho nước ngoài vì đồng Mỹ được tín nhiệm và sử dụng rộng rãi. Vào cuối năm 2017, nợ của chính phủ Liên bang lên tới trên 14 ngàn tỷ (80% GDP), trong đó 6,3 ngàn tỷ, hay 44,0%, là do nước ngoài nắm, nhiều nhất là TQ và sau đó là Nhật 1,1 ngàn tỷ, mỗi nước giữ hơn 1 ngàn tỷ. Vì là phương tiện trao đổi được tín nhiệm cao, Mỹ cũng có thể in tiền trả nợ mà không làm suy yếu giá trị đồng đô la, mà ngược lại giá đồng đô la tăng trong 10 năm qua (Hình 2). Đây cũng chính là điều TQ mong muốn, đang cố tập trung các nền kinh tế khác quanh mình để có thể in tiền trả nợ như Mỹ.


Hình 2. Chỉ số giá trị đồng USD so với các đồng khác (1970-2017)


Tuy thế, mặt trái của đồng đô la mạnh là nó làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Mỹ, sản xuất hàng hóa được chuyển dần ra nước ngoài. Giai cấp trung lưu nhỏ dần. Thu nhập cũng giảm do đó mới tạo ra hiện tượng Trump. Thời kỳ 1970-2013, năng suất lao động tăng gấp 2,4 lần nhưng lương chỉ tăng 9% (Hình 3). Điều này có nghĩa là năng suất đó chỉ góp phần vào tăng lợi nhuận là chính. Giảm thuế cho người giàu lại càng làm hố ngăn cách sâu thêm.

Hình 3. Chỉ số tăng năng suất lao động và tăng lương giờ lao động

Thuế suất giảm nhưng không thể tăng GDP ở mức có thể tăng số thuế thu được, nên ước đoán của Uỷ ban lưỡng viện độc lập cho rằng số thu sẽ giảm 1.500 tỷ trong 10 năm tới.

Vậy thì để giảm thiếu hụt ngân sách, thì phải giảm chi. Mà chi nhiều nhất là cho người nghèo, người khuyết tật, chi bảo hiểm xã hội cho người về hưu. Như thế thành phần này, thuộc đa số dân, sắp tới sẽ phải chịu hy sinh, nếu Đảng Cộng hòa và Trump thực hiện được việc cắt giảm. Thực tế chính trị cho thấy, lấy mồi giảm thuế để mua chuộc thì dễ hơn là cắt giảm quyền lợi.

Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp ở Mỹ để cạnh tranh với các nước khác có thuế thấp hơn là đúng đắ. Nhưng vấn đề đặt ra là tại sao các nước lại chạy đua xuống đáy như vậy. Thuế thu được quá thấp thì mọi chương trình xã hội giáo dục phải cắt giảm. Có thể gọi là văn minh khi một số người rất giầu còn đa số thuộc phận bèo bọt, không thể tìm ra việc làm? Có thể lúc nào đó cần có một hiệp định quốc tế, quyết định thuế suất tối thiểu.


(3) và (4). Chiến lược tăng cường sức mạnh quân sựchiến lược tăng cường ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới

Chiến lược tăng cường sức mạnh quân sự (3) và ảnh hưởng (4) của Mỹ đang bị thách thức nghiêm trọng. Sức mạnh quân sự tất nhiên không thể đạt đỉnh điểm nếu Mỹ đứng một mình. Chính sách Nước Mỹ trên hết của Trump hiện nay thực chất là làm suy yếu chiến lược tăng cường sức mạnh quân sự và ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới.

Về mặt kinh tế, Mỹ rút vào cố thủ, chủ trương song phương, phê phán và áp lực Mexico, Việt Nam vì thấy cán cân thanh toán quá nghiêng về mấy nước này, nhưng lại có vẻ sợ TQ khi thực tế thiếu hụt là chủ yếu với TQ, chiếm tới gần một nửa thiếu hụt (Bảng 1).

Bảng 1. Cán cân thương mại của Mỹ với các nước trên thế giới, 2016


Tỷ US

%

Cán cân thương mại

-750

100,0

China

-347

46,3

Nhật

-70

9,4

Mexico

-69

9,2

Germany

-65

8,7

Vietnam*

-32

4,3

Nam Hàn

-28

3,7


* Thặng dư quá mức của VN thật ra là nhận vơ, bởi vì nếu thực hiện thống kê theo đúng tiêu chuẩn của LHQ thì xuất khẩu của Samsung, của Intel, Nike, v.v.  thực chất là xuất khẩu của Nam Hàn, Mỹ, v.v. và không được ghi là của VN. Đây là hàng thuộc sở hữu của nước ngoài do họ định giá và gửi tới khách hàng của họ ở nước khác, họ chỉ trả phí gia công cho VN. Như thế có thể VN chỉ xuất 5-10% phí gia công trên tổng số 41 tỷ US hàng điện thoại di động của Hàn Quốc xuất khẩu từ VN.

Với Mexico và Canada, Mỹ đòi thương thuyết lại Hiệp định Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA). Với thế giới nói chung, Mỹ qua mặt Hiệp ước thương mại quốc tế (WTO), đòi thương thuyết lại với tư cách song phương nhưng chắc chắn không ai chịu. Nếu muốn khác thì Mỹ phải tự rút khỏi WTO để thương thuyết lại với từng nước.  Việc Trump đòi hỏi cân bằng thương mại với từng nước thì có nghĩa là nguyên tắc sản xuất để trao đổi những gì có ưu thế sẽ không còn. Thí dụ có 3 anh, mỗi anh ưu thế một cái, thì a có thể có thiếu hụt (deficit) với b, b thiếu hụt với c và c lại thiếu hụt với a nhưng mỗi anh có thể cân bằng nếu tính toàn diện. Đây là nguyên tắc thụt lùi, phi kinh tế. 

Trước đây, Trump muốn bắt tay với Nga để giải quyết hòa bình khu vực Trung Đông, nhưng bây giờ qua bản báo cáo chiến lược, Trump lại chỉ đích danh Nga và TQ là hai quyền lực đối địch (rival powers), đối thủ chiến lược (strategic competitor) hay quyền lực muốn thay đổi trật tự hiện tại (revisionist powers) của Mỹ.

Xin miễn bàn về Nga, vì Mỹ không có các phương tiện kinh tế để gây áp lực với Nga với lý do đơn giản là Nga không có quan hệ đáng kể với kinh tế Mỹ và ngay cả khối Liên Hiệp Châu Âu.

Cũng xin miễn bàn nhiều về Bắc Hàn, vì đe dọa bằng biện pháp quân sự chỉ là võ mồm. Việc Bắc Hàn phát triển võ khí nguyên tử nhằm tự vệ theo chiến lược “Chí Phèo” (tôi chết thì anh cũng chết) và hy vọng sẽ bị lôi ra khỏi tình trạng bị cô lập toàn diện.

Mỹ chỉ có hai chọn lựa. Một là tiếp tục cô lập Bắc Hàn và năn nỉ Bắc Kinh cắt cung ứng xăng dầu, chỉ tạo thêm “uy tín” cho Bắc Kinh, bởi vì không lẽ đẩy dân Bắc Hàn về thời đồ đá không điện nước, còn họ Kim thì sẵn sàng làm điều này và dùng xăng dầu còn lại cho chương trình hoả tiễn. Hai là bỏ cấm vận Bắc Hàn như việc Obama bỏ cấm vận Cuba và để cho họ tự diễn biến.

Hãy thử xem đối sách với Trung Quốc.


Đối sách với Trung Quốc


Góc độ kinh tế của chiến lược an ninh Mỹ - thế đứng của Việt Nam

Về quân sự, chính sách tầm thực của TQ là nhằm chiếm dần, xây dựng dần hệ thống tiền đồn ở Biển Đông là nhằm vào một lúc nào đó thực hiện việc kiểm soát toàn diện khu vực biển. Cho đến nay, việc cho chiến hạm lâu lâu chạy vào vòng 20 dặm mấy hòn đảo mà TQ kiểm soát. Thế thôi. Nếu TQ đem chiến hạm ra đuổi có lẽ Trump sẽ lặng lẽ ra lệnh rút thay vì đứng lại đối đầu. Về mặt quân sự, Mỹ gần như không có biện pháp gì ngoại trừ sẵn sàng đi vào chiến tranh mà Mỹ và chính dân Mỹ cũng không muốn.

Cho nên Trump hay nước Mỹ chỉ có thể xây dựng liên minh, hay đồng minh để sửa soạn cho việc trả đũa về mặt kinh tế nếu thấy cần. Và mục đích là nhằm bảo vệ hòa bình ở Biển Đông mà Tòa án Quốc tế đã bác bỏ quyền yêu sách chủ quyền ở đá ngầm, tuyên bố không có đảo mà chỉ có đá, tức là hạn chế tối đa địa điểm có thể tranh chấp ở Biển Đông. Và như thế gần như toàn bộ Biển Đông là biển khơi, không thuộc bất cứ nước nào. Đây chính là cơ sở pháp lý để tập hợp lực lượng nhằm kêu gọi TQ hợp tác và ngăn cản khả năng có thể đưa đến chiến tranh.

Kinh tế TQ đã được hưởng rất nhiều ơn mưa móc của Mỹ và phương tây khi họ mở cửa cho TQ. Vì thế rõ ràng là hiện nay và sắp tới, TQ vẫn phải dựa vào thị trường và công nghệ phương Tây, đặc biệt là Mỹ, và phải trả giá rất lớn, lớn hơn rất nhiều so với Mỹ, nếu bị cấm vận. Theo tính toán của tôi, nếu có cấm vận, GDP Trung Quốc sẽ giảm 19% trong khi đó Mỹ sẽ giảm 2%.

TQ hiện nay một mặt xây dựng căn cứ quân sự ở Biển Đông, một mặt kiếm cách quây quần các nước, đặc biệt ở châu Á, xoay quanh trục TQ, với chương trình cho vay nợ và chi trả thương mại bằng đồng TQ, lập thị trường buôn bán hợp đồng nguyên liệu bằng đồng TQ, đầu tư trực tiếp và thu mua nhằm sở hữu các doanh nghiệp các nước chung quanh, cổ vũ cho việc xóa bỏ dần biên giới quốc gia trong thương mại, tất cả là nhằm biến các nước quanh vùng thành một phần của kinh tế TQ.

Vì vậy một chiến lược đối đầu nếu cần thiết là phải kết hợp giữa quân sự và kinh tế.

Rất tiếc là vì chính sách “nước Mỹ trên hết” Trump đã rút khỏi Hiệp định TPP mà Obama xây dựng nhằm tạo thiết chế kết dính 11 nước quan trọng như Úc, Canada, Nhật, Việt Nam, Mã Lai, Singapore v.v. với nhau.

Đối với Việt Nam, tình hình trên đòi hỏi sự độc lập không chỉ chính trị, quân sự mà cả kinh tế. Việc để TQ hay bất cứ nước nào mua và kiểm soát doanh nghiệp quan trọng có tầm ảnh hưởng đến an ninh quốc là điều không thể chấp nhận trong cục diện trước mắt và sau này. Trong khu vực Đông Nam Á, từ Indonesia, Thái Lan, Phi, Singapore không nước nào cho phép tư nhân nước ngoài làm chủ đất đai.

Ý kiến trên thì rất nhiều người Việt kể cả báo chí và quan chức có hiểu lầm. Cho đến nay không có hiệp định nào về việc tự do mua bán doanh nghiệp. Bán hay không là quyền của quốc gia. Hiệp định WTO chỉ liên quan đến buôn bán hàng hóa và dịch vụ, và không liên quan đến cả FDI. Các hiệp định song phương có thể có các điều kiện nhất định  về đầu tư trực tiếp thôi (FDI), nhưng không có tự do toàn diện. Chính sách kinh tế cơ bản của VN là dựa vào phát triển doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân trong nước gần như dậm chân tại chỗ (coi bảng 2). Tư nhân hóa DNNN phải ưu tiên dành quyền sở hữu cho tư nhân Việt Nam.

Bảng 2. Tỷ lệ trên GDP (trừ thuế)


2010

2011

2012

2013

2014

2015

Kinh tế nhà nước

33,6

32,8

32,6

32,3

31,9

31,9

DN tư nhân trong nước

7,9

8,3

8,9

8,7

8,7

8,8

DN tư nhân nước ngoài

17,3

17,7

17,8

19,3

19,9

20,1


Cũng chính vì thế mà ngay cả Trump cũng đặt vấn đề bảo vệ công nghệ kể cả ngăn cản TQ mua công ty hay công nghệ của Mỹ. Với TQ, Trump chủ trương rất đúng ở hai phương diện:

  1. Ngăn chận việc TQ đánh cắp bản quyền phát minh và công nghệ.

  2. Ngăn chận việc TQ mua cổ phiếu công ty ở mức 51% để hoàn toàn làm chủ công ty Mỹ có công nghệ cao và có tầm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia thí dụ như công ty Boeing, GE, hay công ty dầu hỏa lớn. 

Trên hai phương diện trên, từ lâu Mỹ đã cơ chế kiểm soát  việc nước ngoài mua công ty Mỹ.  Uỷ ban Đầu tư nước ngoài của Mỹ (CFIUS) thuộc Bộ Tài chính được thiết lập theo luật đã có từ 1950 và sửa đổi năm 2007 hoàn toàn có quyền duyệt chặn đứng bất cứ việc mua kiểm soát công ty được coi là quan trọng với an ninh nước Mỹ. Và tất nhiên Tổng thống cũng có quyền này. Đối tác muốn mua quyền kiểm soát phải nộp đơn xin phép. Quyền kiểm soát của nước ngoài được định nghĩa là một cá nhân nước ngoài sở hữu 25 % cổ phiếu, mà không có công dân nào có tỷ lệ sở hữu bằng hoặc cao hơn, hoặc 1 hay nhiều người nước ngoài nắm trên 50% sở hữu.

Nguồn: Bài tác giả gửi Diễn Đàn. Một phiên bản ngắn hơn đã đăng trên TBKTSG.

Vũ Quang Việt

Các thao tác trên Tài liệu
Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss