Bạn đang ở: Trang chủ Việt Nam Đốt cháy giai đoạn, hậu quả khôn lường

Đốt cháy giai đoạn, hậu quả khôn lường

Về việc xây 4 lò điện hạt nhân

Đốt cháy giai đoạn,
hậu quả khôn lường

 

Phạm Duy Hiển


Tại cuộc hội thảo do Liên Hiệp các Hội Khoa Học Kỹ Thuật VN tổ chức mới đây, ý kiến các nhà khoa học không đồng tình với việc xây dựng cùng lúc 4 lò phản ứng hạt nhân đã thu hút mạnh mẽ sự chú ý của dư luận. Ngay sau đó đã có ý kiến phản bác lại từ phía một số cơ quan chức năng.

Báo Tiền Phong đã có cuộc trao đổi với GS Phạm Duy Hiển – nhà khoa học hàng đầu của ngành hạt nhân Việt Nam, người từng giữ trọng trách chỉ huy xây dựng và vận hành lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Tuy nhiên có thể do khuôn khổ tờ báo, bài được đăng đã bị cắt khoảng 1/3 so với bài gốc. Diễn Đàn xin cám ơn GS Phạm Duy Hiển đã vui lòng cho phép đăng lại toàn bài này.

 

PV. Nghe những ý kiến phản bác đó, GS nghĩ gì?

Trước hết, tôi muốn bình luận ý kiến của một chuyên gia Nhật Bản đến Viện NCHN Đà Lạt dự hội thảo và được đưa lên VTV1 gần đây. Ông ta nói nước Nhật vận hành hơn 50 lò phản ứng rất an toàn, do đó các bạn VN nên nhanh chóng xây dựng nhà máy điện hạt nhân (ĐHN), không có gì phải lo lắng.

Sự thực, hơn mười năm gần đây Nhật Bản đã giữ kỷ lục thế giới về các tai nạn ĐHN, khiến những ai chống đối ĐHN càng tin rằng họ có lý (may quá, không có tôi trong số này!). Đó là những sự cố lò nơ trôn nhanh Monju (1995) khiến phương hướng năng lượng sống còn, nhưng rất tốn kém này của nước Nhật phải bị đình chỉ; tai nạn xảy ra ở nhà máy xử lý nhiên liệu Tokaimura năm 1999 do những sai sót hết sức ngớ ngẩn đã làm chết hai kỹ thuật viên, 600 người bị chiếu xạ, 320.000 người dân địa phương được yêu cầu không ra khỏi nhà; vụ bịa đặt số liệu kiểm tra nghiêm trọng ở tập đoàn TEPCO bị phác giác (2003) khiến 17 lò phản ứng với tổng công suất lên đến 16 nghìn mê ga oát của tập đoàn này phải đóng cửa nhiều tháng trời v.v...

Nhân đây tôi xin nói rằng một số công ty nước ngoài muốn bán nhà máy cho ta đã không ngần ngại dụ dỗ và tuyên truyền một chiều trong các hội thảo khoa học, triển lãm, tổ chức hàng trăm lượt người đi tham quan nhà máy ĐHN như những khách VIP. Mắt thấy tai nghe để ủng hộ ĐHN là việc nên làm, nhưng lạm dụng chuyện này để bán nhà máy mà không đả động gì đến thực trang an toàn nhà máy ĐHN và trình độ còn thấp của chúng ta là rất nguy hiểm.

DL

GS Phạm Duy Hiển

PV. Và họ đã thành công?

Đúng thế, đến thăm nhà máy ĐHN, tai bạn không nghe một tiếng động, mũi bạn không thấy bốc mùi, khói đen kịt không thoát ra từ ống khói như nhà máy điện chạy than thông thường. Trái lại, mắt bạn bị choáng ngợp bởi các thiết bi hiện đại, sáng choang. Nhưng bạn không thể nào hình dung được sức “công phá” ghê gớm của hàng tỷ cu ri chất phóng xạ bị nhốt bên trong khối bê tông kia một khi con “quỷ dữ đó sổng chuồng”. Chỉ cần vài cu ri trong số hàng tỷ cu ri đó cũng đủ chết người.

Đây chính là câu chuyện an toàn từng làm cho dân chúng ở nhiều nước tiên tiến “nói không” với ĐHN, làm cho ĐHN dẫm chân tại chỗ trong nhiều thập kỷ liền. Nước nào làm ĐHN cũng phải tính đến chuyện này như vấn đề sống còn của cả dân tộc. Cho nên rất dễ hiểu khi thấy Phần Lan, nước châu Âu độc nhất đang xây lò phản ứng, lại phải chịu bỏ tiền ra mua lò đắt nhất của Pháp vì mục tiêu an toàn trên hết. Chưa hết, họ đang trễ tiến độ đến gần hai năm cũng chính vì để bảo đảm an toàn.

Mà ĐHN có an toàn hay không đâu phải là chuyện thuần túy kỹ thuật như các công ty thường ve vãn. Đây là vấn đề con người, cụ thể là trình độ chuyên gia, quản lý, thực thi luật pháp và hạ tầng cơ sở. Tất cả những tai nạn hạt nhân đến nay đều do con người gây ra.

Người ta cố tình lờ đi những chuyện này cốt sao VN sớm ra quyết định làm ĐHN, xây một lúc càng nhiều lò càng tốt. Mục tiêu trước mắt của họ là bán được nhà máy, sau đó ... sẽ tính tiếp!

 

PV. Xin GS nói rõ hơn tính tiếp là thế nào?

Sẽ tốt đẹp nếu ta có đủ người am hiểu, làm chủ được công nghệ phức tạp, lại có hệ thống luật pháp nghiêm minh, biết quản lý theo công nghiệp hiện đại. Song chúng ta đang thiếu tất cả những thứ đó. Giả sử nếu năm 2009 Quốc Hội quyết định xây nhà máy ĐHN thì năm 2010 các chuyên gia sẽ phải vào cuộc để quyết định những việc hệ trọng ở tầm chuyên môn sâu nhằm khởi động dự án, như chọn công nghệ, ra bài thầu, xét duyệt các phương án thiết kế và xem xét chu đáo tác động đến môi trường của rất nhiều hạng mục công trình. Ai làm việc này? Có thể kể đến một số anh em có kinh nghiệm vận hành lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, nhưng chưa thể nói đây là các chuyên gia ĐHN, vả lại số người này cũng không thấm vào đâu. Vậy phải phó thác những quyết định lớn cho người nước ngoài chăng?

Cái nữa mà chúng ta thiếu, và đáng sợ, là tính kỷ luật và chấp hành quy trình quy phạm công nghiệp. Nhìn quang cảnh giao thông hỗn loạn trên đường phố ta sẽ liên tưởng ngay đến ĐHN. Nhà máy ĐHN không thể là một ốc đảo bình yên trong một môi trường mà entropy và tính hỗn độn ngày một gia tăng như hiện nay. Trong hoàn cảnh đó, rất cần những người quản lý nghiêm túc, có hiểu biết, không được hớ hênh và chủ quan. Cấp trên của họ lại càng như vậy. Cho nên, những phát ngôn gần đây của một số người thuộc cơ quan chức năng khiến cho công chúng hết sức lo ngại. Có thể họ có thiện ý tuyên truyền cho ĐHN, nhưng hóa ra gậy ông lại đập lưng ông.

Các công ty nước ngoài rất hiểu tình trạng này của chúng ta. Họ tin rằng đằng nào ta cũng phải trông chờ vào sự điều khiển của họ trong mọi khâu sau này. Kịch bản tương lai là thế đó! Rồi biết đâu nhà máy ĐHN sẽ trở thành một thứ con tin trong tay họ.

 

PV. Vậy không thể nói nhà máy ĐHN chẳng khác gì nhà máy điện chạy than thông thường, chỉ một bên được đốt bằng than, bên kia bằng hạt nhân?

Tôi nghĩ, khi nghe những ý kiến kiểu này, người nào chưa “sợ” ĐHN, ắt phải “sợ”, ai đã “sợ” rồi chắc phải ... khiếp! Bởi ĐHN nằm trong tay những người chỉ cưỡi ngựa xem hoa rồi xem trời bằng vung. Tôi không tin rằng những người hoạch định chính sách ở cấp cao sẽ nghe theo họ.

 

PV. Vậy đào tạo nhân lực trình độ chuyên gia bằng cách nào?

Đào tạo người vận hành thì dễ, vài năm là xong, thậm chí dễ ợt theo cách nói của một vị quan chức mới đây[i]. Đào tạo chuyên gia mới khó. Các cơ sở đào tạo trong nước hiện không đủ điều kiện, vì ĐHN không thể dạy chay, mà ngay cả người dạy chay cũng thiếu. Chúng ta chỉ dạy cho thoát nạn “mũ chữ hạt nhân” thôi. Đầu vào lại rất thiếu, lớp trẻ có năng lực không thích vào ngành này. Dù sao, vẫn cứ phải tổ chức lại và nâng cấp các cơ sở hạt nhân ở trường và viện để đào tạo cán bộ, chuẩn bị cho lâu dài.

Nhìn ra nước ngoài, tôi cũng không hy vọng họ sẵn lòng đào tạo chuyên gia, nhất là trao các hiểu biết công nghệ về ĐHN cho ta. Vậy chỉ còn cách là tập hợp những người ưu tú nhất hiện có và tổ chức tự đào tạo qua công việc. Cho nên, tôi kiên trì ý kiến trước mắt chỉ xây dựng một lò 1000 mê ga oát, lấy đó làm trường đào tạo, xây dựng và thử thách cơ sở hạ tầng của chúng ta, đặc biệt là hệ thống quản lý và thực thi pháp luật an toàn hạt nhân. Thành công của dự án này không chỉ là đưa một lò phản ứng vào vận hành, mà chính là qua đó đặt những nền tảng ban đầu cho cả quá trình phát triển ĐHN sau này. Nghĩ mãi, tôi không thấy cách nào khác. Đốt cháy giai đoạn, hậu quả khôn lường!

 

PV. Nhưng có người lại bảo xây luôn bốn lò cũng tốn từng ấy người và xác suất xảy ra sự cố cũng chẳng khác gì xây một lò mà lại kinh tế hơn?[ii]

Chao ôi! Không biết vị này du nhập thứ triết lý kỳ quặc này từ đâu mà cho rằng xây bốn lò cũng tốn từng ấy người và xác suất xảy ra sự cố cũng giống như xây một lò. Còn kinh tế hơn, thì có thể, nhưng chỉ có lợi cho bên bán thiết bị thôi. Mà tiêu chí của chúng ta là an toàn cho dân chúng hay kinh tế? Nếu có một quyết định nào đó sai lầm trong khi xây đồng thời bốn lò thì “quay đầu” lại bằng cách nào? Có tốn kém hơn không?

 

PV. Lại có ý kiến cải chính rằng bốn lò sẽ xây gối đầu nhau chứ đâu cùng một lúc?

Thế này nhé, muốn 2020 có ĐHN ngay từ 2013 ta phải động thổ lò thứ nhất, đến 2017-18 phải động thổ lò thứ tư. Vậy từ đó trở đi không phải xây đồng thời bốn lò là gì? Chuyện hiển nhiên vậy mà một số người vẫn thích chơi trò tù mù!

 

PV. GS nhấn mạnh đến vấn đề an toàn hạt nhân. Để minh họa, GS có thể kể lại một vài trải nghiệm đối với lò phản ứng Đà Lạt (LPUĐL) mà GS từng chỉ huy xây dựng và vận hành?

Theo kế hoạch, LPUĐL phải được nạp nhiên liệu vào ngày 20/10/1993 để kịp khởi động vật lý trước ngày 1/11/1993 chào mừng 5 năm ký kết hiệp ước hữu nghị Việt Xô và cách mạng tháng Mười Nga (7/11). Cả phía ta và bạn đều yêu cầu vậy. Vào ngày 20, tôi quyết định dùng một chiếc xe che bằng chì chống tia phóng xạ để leo xuống đáy lò xem xét tình trạng dưới đó. Tôi thấy dưới đáp lò nước quá bẩn, nếu cho thêm nước cất hai lần vào cho đầy thùng (20 m3), e rằng các thanh nhiên liệu có thể sớm bị dỉ và thủng, gây ra dò dỉ chất phóng xạ. Tôi quyết định không thể nạp nhiên liệu khi chưa làm sạch đáy lò trước sự phản đối của các bạn Liên Xô, sợ không kịp tiến độ. Tôi cũng tổ chức họp để thuyết phục các đồng nghệp VN.

Cũng theo kế hoạch, sau ngày nghỉ lễ cách mạng tháng Mười (7/11), các chuyên gia Liên Xô sẽ cùng với phía ta khởi động năng lượng và đưa lò vào vận hành ổn định trước cuối tháng 12, sau đó họ sẽ về nước ăn Tết. Ngày 10, trước khi vào việc, tôi yêu cầu rút một thanh nhiên liệu từ dưới lò lên xem xét (lúc này thanh nhiên liệu chỉ nhiễm xạ rất ít). Mọi người bàng hoàng khi thấy vỏ thanh nhiên liệu vốn sáng loáng trước khi nạp vào lò, bây giờ trở nên xám xịt, không rõ vì sao. Tôi quyết định dừng mọi kế hoạch lại để nghiên cứu xem chuyện gì đã xảy ra, cử trưởng đoàn chuyên gia về nước mang theo một thanh nhiên liệu giả và một lít nước lò để các nhà khoa học Liên Xô tham khảo. Đồng thời đề nghị nhà nước bỏ tiền ra ký hợp đồng gia hạn đoàn chuyên gia Liên Xô thêm ba tháng nữa. Các bạn Liên Xô bắt buộc phải chấp nhận quyết định của tôi mặc dù rất buồn vì không được về nước đoàn tụ gia đình trong dịp năm mới.

Nhiều người bảo tôi bướng, làm phật ý cấp trên và mất lòng các bạn Liên Xô. Nhưng trong hơn 25 năm qua, chưa bao giờ tôi ân hận về các quyết định đó. An toàn là trên hết. Nếu không có những quyết định đó, chắc gì LPUĐL làm việc ngon lành cho đến tận bây giờ.

 

Xin cảm ơn ông

 

Phạm Duy Hiển

Phỏng vấn do Mỹ Hằng thực hiện

 

 


[i] Theo ông Nguyễn Đăng Vang, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội, “chúng ta có đủ năng lực để làm việc đó [quản lý, vận hành một nhà máy điện hạt nhân] và để đào tạo một đội ngũ vận hành những vấn đề này cần thời gian khoảng 32 tháng”. Xin miễn bình về cái khẳng định chắc nịch của ông tiến sĩ chăn nuôi này. Xem Tiền Phong ngày 18.10.2008.

[ii] Đó là ý kiến của ông Lê Tuấn Phong - Phó Vụ trưởng Vụ Năng lượng (Bộ Công Thương) phát biểu trên báo Tiền Phong ngày 19.10.2008. Ông vụ trưởng của bộ Công thương này chắc quen bán chạp phô ?

(các chú thích là của Diễn Đàn)

Các thao tác trên Tài liệu
Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss