Bạn đang ở: Trang chủ / Việt Nam / Lý giải kiều hối tăng mạnh và 33 tỷ USD “ xuất ngoại ”

Lý giải kiều hối tăng mạnh và 33 tỷ USD “ xuất ngoại ”

- Vũ Quang Việt — published 26/01/2015 16:20, cập nhật lần cuối 26/01/2015 23:26
Phân tích những số liệu chính thức : từ 2008 đến 2013, 33 tỉ đô la đã tuồn lậu ra nước ngoài ; kiều hối là một kênh đưa "tiền rửa" về đầu tư trong nước.

Lý giải kiều hối tăng mạnh
và 33 tỷ USD "xuất ngoại"


Vũ Quang Việt



Con số 33 tỷ USD từ năm 2008 đến năm 2013 chảy ra nước ngoài không hợp pháp này là có thật, và đặc biệt là mức chảy ra ngoài tăng mạnh từ sau năm 2008. Năm 2009, số tiền chảy ra nước trên 9 tỷ, từ năm 2010 có giảm xuống nhưng lại ngày càng tăng và đạt mức gần 9 tỷ năm 2013 . Đây là con số tính được từ bản cân đối thanh toán với nước ngoài (coi Hình 1 và Bảng 1).


hinh-1

Hình 1: Tiền chuyển chui ra nước ngoài


Giải thích về cách tính


Trong bảng cân đối thanh toán quốc tế, phần mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể nắm được chính xác là số ngoại tệ được dùng làm dự trữ ngoại tệ, tức là tiền và gần như tiền, mà NHNN có thể nhanh chóng chuyển thành tiền, để sử dụng bất cứ lúc nào nhằm ảnh hưởng tới hối suất trên thị trường. Tiền nằm trong tay NHNN (X) là tổng số ngoại tệ nhận được từ nước ngoài (X1) trừ đi tiền chuyển ra nước ngoài một cách hợp pháp (X2). X= X1-X2. Nếu có chu chuyển bất hợp pháp thì X=(X1- X2) + Y. Nếu Y là âm thì đó là tiền chuyển ra nước ngoài bất hợp pháp, và nếu là dương thì là tiền chuyển vào bất hợp pháp. Các trao đổi hợp pháp quốc tế được phản ánh trong các thanh toán hợp pháp và được ghi lại trong bảng cán cân thanh toán quốc tế.

Khi các thông tin về X1 và X2 không chính xác mà chỉ có X là chính xác, thì Y là sai số. Trong việc tính toán cán cân thanh toán, sai số ở mức 3-5% là thường tình, và nếu là sai số thì có tính bất định, khi dương khi âm. Nhưng khi sai số chỉ là số âm và lại rất lớn thì không thể không nghĩ đến tình trạng chuyển ngoại tệ ra nước ngoài bất hợp pháp. Đây là tình trạng của Việt Nam.


Phân tích kết quả


Trong trao đổi ngoại tệ với nước ngoài và trong điều kiện của Việt Nam, ngoại tệ được chuyển ra nước bao gồm các khoản dùng để nhập khẩu, trả lãi và trả nợ; còn ngoại tệ chuyển vào VN là tiền nhận được từ xuất khẩu, từ đầu tư trực tiếp để sản xuất và gián tiếp vào thị trường cổ phiếu, từ vay mượn qua trái phiếu và nợ nước ngoài, từ viện trợ và nhất là từ người Việt cư trú hoặc xuất khẩu lao động gửi về. Để đơn giản hóa trong phần trình bày, bảng 1 chỉ ghi giá trị ròng thí dụ cán cân ngoại thương về hàng hóa là xuất khẩu trừ nhập khẩu. Số dương chỉ lượng tiền chuyển vào trong nước, số âm chỉ lượng tiền chuyển ra nước ngoài.

Cán cân thương mại: Thí dụ năm 2013, xuất siêu hàng hóa là 8.7 tỷ USD (xuất là 132.4 tỷ và nhập là -123.1 tỷ). Còn dịch vụ là -8.7 tỷ USD nhập siêu (xuất là 10.8 tỷ và nhập là -19.5 tỷ). Xuất nhập khẩu bao gồm xuất nhập khẩu vàng chính thức qua hải quan mà có lúc như năm 2008 nhập thuần đến 2.4 tỷ và năm 2011 nhập thuần đến 2 tỷ. Tất nhiên nếu có nhập lậu thì phần này sẽ đi vào sai số. Nhập vàng lớn là vì đồng tiền Việt mất giá và do đó tạo thành tình trạng vàng hóa kinh tế. Tình trạng này coi như chấm dứt vào năm 2012-2013 khi nhập thuần vàng chỉ còn dưới 40 triệu.1 Ngoài ra là chuyển đô la lậu, điều này thì khó mà biết, nhưng có thể không lớn.




2008

2009

2010

2011

2012

2013

1. Cán cân ngoại thương hàng hóa


-12.8

-7.6

-5.1

-0.5

8.7

8.7

2. Cán cân thương mại dịch vụ và thu nhập


-5.4

-5.4

-7.0

-8.0

-7.7

-8.7

3. Chuyển giao vãng lai (kiều hối, v.v.) 7.3 6.4 7.9 8.7 8.2 9.5
   3.1 Của tư nhân
6.8 6.0 7.6 8.3 7.9 8.9

   3.2 Của nhà nước/quốc tế

0.5

0.4

0.3

0.4

0.3

0.6

4. Chuyển giao vốn tư bản 12.3 6.8 6.2 6.5 8.7 -0.2
   4.1 Đầu tư trực tiếp (FDI)
9.3 6.9 7.1 6.6 7.2 6.9
   4.2 Đầu tư gián tiếp -0.6 -0.1 2.4 1.5 2.0 1.5
   4.3 Vay mượn ngắn và dài hạn
3.0 4.7 3.8 4.9 5.6 3.5

   4.4 Tiền và tiền gửi ngân hàng nước ngoài

0.7

-4.8

-7.1

-6.4

-6.0

-12.0

5. Sai số


-1.0

-9.0

-3.7

-5.6

-6.1

-8.8

6. Tăng dự trữ ngoại tệ 0.5 -8.9 -1.8 1.1 11.9 0.6
             

Nhập lậu từ TQ


0.9

0.4

-2.9

-4.2

-5.2

-11.7

Bảng 1. Cán cân thanh toán quốc tế, 2008-2013 (Tỷ USD)

Nguồn: Asian Development Bank, Key Indicators for Asia and the Pacific 2014,
bảng về Việt Nam, số liệu do VN cung cấp. Số liệu về chi tiết hơn cho năm 2013
có thể xem thêm trên website của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Nhập lậu từ TQ dựa vào số liệu của UN Comtrade Database.2

Chú thích: Số liệu hàng (5) tính như sau: (6) – [(1) + (2) + (3)+ (4)].  Số liệu hàng (7) là độc lập, tính bằng: xuất khẩu vào VN theo báo cáo của TQ, trừ đi nhập theo báo cáo của VN. 


Chuyển giao vãng lai: Chuyển giao vãng lai (còn gọi là chuyển giao hiện hành) ở VN chủ yếu là tiền người Việt cư trú ở nước gửi về nước (thường gọi là kiều hối) cho gia đình. Kiều hối tăng mạnh từ sau năm 2006 và năm 2013 đạt 8.9 tỷ (coi hình 2). Con số này thấp hơn con số 11 tỷ mà báo chí Việt Nam đưa ra, dù là dựa vào thông tin của Ngân hàng Thế giới (NHTG). Số liệu do NHTG ghi chú là nguồn là từ VN và IMF, nhưng khác hẳn con số của VN ở trên và khó tin. Thật ra kiều hối từ nguồn VN hay NHTG cũng đều khó tin, và rất có thể chúng không chỉ gồm kiều hối mà còn là gồm cả tiền bẩn gửi về để rửa.


hinh-2

Nguồn: ADB như trên.

Lý do tiền gửi về cho gia đình không chỉ là kiều hối có thể giải thích như sau. Người Việt ở nước ngoài gồm khoảng 3 hay 4.5 triệu kiều dân (tùy nguồn),3 trong đó 1.3 sống ở Mỹ (số liệu ở Mỹ này là đáng tin cậy). 4 Theo nguồn tin phỏng vấn một chuyên viên cao cấp của Western Union ở Hà Nội và đăng trên mạng của Bộ Ngoại giao, lao động nước ngoài là 400 ngàn và gửi về khoảng 1.6 tỷ. 5 Còn nguồn khác, lao động là 825 ngàn.6 Theo thông tin của Bộ Lao động thì số lao động là 500 ngàn.7 Nếu lấy số 500 ngàn và tiền gửi về là 1.6 tỷ thì tính trung bình để phân tích thì một lao động nước ngoài gửi về 3,200 USD một năm. Một con số có thể tin được vì gia đình của người xuất khẩu lao động còn ở VN. Số còn lại của 8.9 tỷ là 7.1 tỷ là do 4 triệu Việt kiều còn lại (lấy số cao nhất và không kể lao động xuất khẩu) sống vĩnh viễn ở nước ngoài gửi về, như vậy họ phải gửi trung bình một người là 1,400 USD một năm, và một gia đình có 3 người trung bình gửi về 4,200 USD một năm là điều khó tin. Nếu chỉ tính riêng cho Mỹ dựa theo một nghiên cứu của Viện Quản lý Trung ương ở VN là 57% số kiều hối là từ Mỹ8 thì Việt kiều Mỹ đã gửi về 3,900 USD một người, hay 11,700 USD một gia đình, một con số hoàn toàn không thể tin được. Nếu dùng số liệu của NHTG, cao hơn nhiều so với số đã dùng ở trên, thì lại càng khó tin.

Hình 2 cho thấy số liệu về kiều hối từ năm 2000 đến 2013. Kiều hối tăng đột biến (63%) năm 2007 sau khi Việt Nam tham gia WTO và có giảm xuống khi kinh tế khủng hoảng năm 2008, nhưng sau đó lại tăng trở lại.

Tại sao tiền gửi về không thể tin được là hoàn toàn do người Việt định cư hay lao động ở nước ngoài gửi về? và đâu là nguồn gốc tiền gửi này?

Có người lý luận rằng kiều hối tăng cao như thế là để ăn chênh lệch lãi suất vì do lạm phát cao trong giai đoạn 2008-2012, lãi suất ở VN cao hơn ở nước ngoài trong khi đó hối suất ở VN lại ổn định. Điều này chỉ là lý luận cho vui, không dựa vào một điều tra nào cả.9 Sự thật ai cũng biết là rủi ro đồng tiền VN mất giá là rất cao, khó lòng tiên đoán, nhưng nghiêm trọng hơn cả là việc không thể chuyển lại tiền trở ra nước ngoài dễ dàng dù có lãi lớn: vậy lợi ích của người đầu cơ là ở chỗ nào? Ngoài ra còn thêm một lý do có thể dùng để bác bỏ lập luận trên là tiền chuyển vào VN hiện nay vẫn tiếp tục tăng trong năm 2013, và ở mức cao dù chênh lệch lãi suất đã xuống vì lạm phát giảm và khủng hoảng kinh tế ở VN.

Như thế, dù không có bằng chứng, người viết này cho rằng lý do rửa tiền có lẽ là hợp lý nhất. Khi làm ăn bất chính, cách đơn giản để các công ty nước ngoài liên quan đến đầu tư trực tiếp, hoặc xuất nhập khẩu tạo thế đứng và lợi nhuận là tăng chi phí phải trả cho phía VN, một phần chi phí này được lại quả cho quan chức liên quan qua việc thiết lập tài khoản cho họ ở nước ngoài. Những quan chức này tất nhiên muốn chuyển tiền về VN, và đơn giản nhất là dùng hình thức kiều hối.

Nguồn gốc của chuyển ngân ra nước ngoài là bất hợp pháp.

Tổng kết lại toàn bộ thì dù có lượng “kiều hối” gửi về lớn, thì nền kinh tế VN đang có có tình trạng chuyển tiền bất hợp pháp ra nước ngoài rất lớn, đạt mức gần 9 tỷ năm 2013 và tổng số là 33 tỷ kể từ năm 2008. Vậy nguyên nhân là từ đâu? Có thể có hai lý do chính để giải thích chuyển ngân bất hợp pháp trên. Một là giới nhà giầu chuyển ngân lậu ra nước ngoài. Hai là tiền chuyển ra nước ngoài chủ yếu là để chi trả cho nhập lậu từ Trung Quốc. Chuyển ngân lậu bằng cách đem tiền ra là rất khó. Có lẽ lý do chính là để trả cho nhập lậu từ TQ.


Kết luận


Bài này chủ yếu nhằm vào việc tính và giải thích tình hình chuyển ngân lậu ra nước ngoài nhưng cũng đưa đến việc cần thiết lý giải hiện tượng kiều hối ngày càng lớn và càng tăng. Như thế ta thấy VN đang gặp hai vấn đề.

Vấn đề thứ nhất là việc chuyển ngân lậu có thể chủ yếu là để nhập lậu từ Trung Quốc. Nhập lậu này rất lớn và ngày càng lớn, đặc biệt là từ năm 2008 đến nay, đạt mức 11.7 tỷ năm 2013 (coi bảng 1), lên đến 10% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam.10 Nhập lậu được tính bằng cách lấy số xuất sang Việt Nam theo báo cáo của Hải quan Trung Quốc trừ số nhập được Việt Nam báo cáo chính thức qua hải quan. Nhập lậu ngày càng tăng đang là mối đe dọa lớn cho nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt có khả năng làm phá sản sản xuất của nông dân và doanh nghiệp nhỏ.

Vấn đề thứ hai là tình hình làm ăn phi pháp của người có chức quyền ở Việt Nam có vẻ ngày càng tăng, và điều này có thể đã được chứng tỏ bằng việc chuyển tiền trở về nước ngày càng lớn nhằm rửa tiền qua dạng kiều hối. Tại sao kiều hối có yếu tố rửa tiền? Đơn giản là, như đã tính toán, khả năng kiều bào chuyển tiền về nước cho gia đình cao như hiện nay là khó tin, hay nói rõ ra là không thể. Tất nhiên đem tiền về là tốt, nhưng việc một xã hội tạo cơ hội cho việc làm giầu bất chính như thế là điều khó lòng chấp nhận.

Vũ Quang Việt


Chú thích :


1 Vàng nhập thuần (triệu USD), nguồn: UN Comtrade Database.

2000  2001  2002  2003  2004  2005  2006  2007  2008  2009  2010  2011  2012  2013

   1       0       12     176    564    814   1871  1300  2367   -440   902   2010    14      40

10 Số nhập lậu của TQ từ VN nhỏ hơn nhiều nên bài này không đưa vào phân tích. Ngoài ra năm 2012 là năm đặc biệt khó giải thích vì số tiền báo cáo xuất sang TQ cuả VN cao hơn rất nhiều số báo cáo nhập của TQ. Ngoài ra số tiền thu được qua xuất lậu cũng đã được sử dụng để nhập lậu.


Nguồn : toàn văn bài tác giả gửi


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us