Bạn đang ở: Trang chủ / Đời sống / Nghệ thuật sân khấu / ĐẠI HỌC PARIS ĐÓN NHẬN CA TRÙ

ĐẠI HỌC PARIS ĐÓN NHẬN CA TRÙ

Cô Aliénor Anisensel là một sinh viên ngành dân tộc nhạc học ở viện Đại học Paris X-Nanterre, còn gọi Paris Tây. Cách đây non mười năm, nhân tìm đề tài luận văn cao học, cô nghe bà mẹ nói đến nước Việt Nam...

Nhân một cuộc bảo vệ luận án tiến sĩ


ĐẠI HỌC PARIS
ĐÓN NHẬN CA TRÙ


Bài và ảnh Võ Quang Yến



Đô môn giải tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.

Nguyễn Công Trứ (sau 1848)

Cô Aliénor Anisensel là một sinh viên ngành dân tộc nhạc học ở viện Đại học Paris X-Nanterre, còn gọi Paris Tây. Cách đây non mười năm, nhân tìm đề tài luận văn cao học, cô nghe bà mẹ nói đến nước Việt Nam, nơi ông cố đã từng làm việc hồi trẻ, đặc biệt thành phố Sài Gòn từ đầu thế kỷ XX đã nổi tiếng là hòn ngọc Viễn Đông. Cô bắt đầu hướng lòng mình về đất nước xa xôi nầy. Năm 2003, như được định mệnh dẫn đường, một hôm tình cờ cô thấy hai dĩa CD ca trù trong một nhà hàng ở Paris. Tuy không biết gì về nhạc Việt Nam, cô mua về nghe và ngay từ ban đầu cô như bị điệu nhạc êm dịu quyến rũ, những giọng hát mượt mà làm mê say. Mặc dầu nghe diễn tấu trong một ngôn ngữ xa lạ, cô bảo những khúc nhạc cổ truyền nầy lập tức chinh phục tim cô và thúc dục cô tiếp xúc với Giáo sư nhạc học Trần Văn Khê, một Việt kiều ở Paris. Sau nầy, càng học, càng đi sâu vào lòng ca trù, cô càng đam mê làn điệu nầy và nỗi hứng thú tưởng như không khi nào vơi. Nhưng ngay bây giờ đây, khó khăn đã hiện ra : Thầy Khê không mấy sốt sắng với nhiệt tình của cô ! Theo Thầy, muốn học ca trù, trước phải nói thạo tiếng Việt, đằng khác phải học từ thuở ấu thơ nếu không là từ trong nôi ở một làng ca trù miền bắc Việt Nam. Thầy không dè sự say đắm nồng nhiệt, tính năng động vô biên của cô sinh viên châu Âu trẻ tuổi giúp cô vượt mọi cản trở. Cô bảo phản kháng của ông Thầy đã là một sức mạnh thúc đẩy cô. Ngay từ năm 2003, cô đi Việt Nam, thẳng tiến đến "đất Tổ ca trù" thôn Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội, là nơi đình làng có thờ Tổ đã được Nhà nước xếp hạng "Di tích văn "hoá" với ngày 12 tháng 11 giỗ Tổ hằng năm. Thật ra, ở các làng Duyên Linh, làng Muội linh (huyện Phú Cừ, tỉnh Hưng Yên), ấp Thái Hà (tỉnh Hà Đông) làng Giáo Phường (phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định), cạnh chợ Hôm, phố Huế (Hà Nội) trước kia cũng có đền thờ Tổ. Cô may mắn được tiếp xúc cố nghệ sĩ ưu tú Phạm Thị Mùi. Tôi đã từng có viết may mắn thường đến với những ai biết khích động nó, sẵn sàng đón nhận cái mới lạ đã từng mong ước. Ca sĩ thiện nghệ Phạm Thị Mùi đối với cô như ngọn gió thổi vào mồi lửa đang nung nấu chỉ đợi có dịp là sùng sục bùng cháy.


hinh-1

Thí sinh Aliénor Anisensel


Thế là cô quyết tâm học nói tiếng Việt để có thể hưởng thụ mọi kiến thức không những của bà Mùi mà sau nầy còn có những nghệ nhân khác như đào nương Nguyễn Thuý Hoà, hậu duệ cố ca sĩ nổi tiếng Quách Thị Hồ từng đuợc phong Nghệ sĩ nhân dân, đã dạy cho cô hát và sử dụng đàn đáy. Sau luận văn cao học (*) bảo vệ xuất sắc năm 2004, trong bốn tháng liền, từ tháng 11 năm 2005 đến tháng 2 năm 2006, cô lặn lội giữa Hà Nội và Lỗ Khê, ngay cả vào Tp Hồ Chí Minh, nơi tập hợp một số nghệ nhân ca trù quê gốc miền bắc di cư. Ở đây cô đã thụ giáo nhà nho học uyên thâm Nguyễn Quảng Tuân. Đặc biệt, cô được về lại Lỗ Khê ba tuần, trong khuôn khổ một học bổng của Trường Viễn đông Bác cổ EFEO. Cô kể đã trú lại ở nhà nghệ nhân đánh trống Hoàng Đức Kỳ, 82 tuổi, nguyên đại tá quân đội, và phu nhân nữ y tá. Mặc dầu cô đã được mọi người trong làng chấp nhận, âu yếm gọi cô là Ali, đời sống không hoàn toàn dễ dãi, nhất là trong công việc tìm hiểu, điều tra. Mặc dầu cô đã được phép lưu trú chính thức của Ủy ban xã, công an cấm cô ra khỏi nhà một phần vì duyên cớ an ninh mà trong làng cũng còn xem "sự giam giữ "nầy như là điều kiện nghi thức khai tâm và sáp nhập. Mọi kiểm soát giao phó cho hai ông bà Hoàng Đức Kỳ. Nhưng cũng chính ông Hoàng Đức Kỳ, tuy là một quân nhân, lại là một nghệ sĩ uyên bác, ngoài những bài dạy hát, gõ phách, đánh trống chầu, thực hành các loại cắc đánh dấu câu hát (cắc chấm câu, cắc phẩy, cắc hỏi thêm vào bắt đầu tiền tam, chấm hết hận tam), các loại khổ xác định sự vận hành bài hát (khổ đầư, khổ giữa, khổ xếp) thực hiện qua những tiếng đánh tom trên màng trống, chát trên thành trống, còn giảng giải cho cô lịch sử ca trù ở Lỗ Khê, giải thích những chính văn nghi lễ. Tuy bị "cấm cung", mỗi tối, sau giờ làm việc, những nhạc sĩ trong làng lại thăm cô để trả lời những câu hỏi của cô. Đặc biệt nữ ca sĩ Nguyễn Thị Thảo dạy thêm cô học hát, gõ phách. Sau nầy, cô còn được thọ giáo những nghệ nhân như cụ Nguyễn Phú Đẹ ở Hải Dương, 80 tuổi, các vị Thục An, Thanh Hiên, Bích Ngọc.

Năm 2007, cô được phép lặp lại thời gian học tập, nghiên cứu trong nhà nầy trong luôn mười ngày. Có lẽ nhờ cuộc học hỏi của cô rất tấn bộ nên năm 2008 cô được phép "xuất cung" trong luôn một ngày mà không có công an kèm theo, chứng minh một sự tự do tuy tương đối. Cô được phép dự, hơn nữa được mời hát trong những ngày lễ hội, nói lên trình độ biểu diễn của cô trong lãnh vực ca trù. Nói chung, để đạt đến thành tích nầy, từ 2003 đến 2008, tổng cộng thời gian về Việt Nam là mười bảy tháng, cô đã làm việc với một mức học hỏi tối đa không ngừng ngày đêm, không quản ngại công lao khó nhọc. Dự định lúc ban đầu thực hiện một luận án tiến sĩ về lý thuyết ca trù, dần dần bị thu hút vào lòng những nhịp điệu hấp dẫn, cô cố gắng học hát, học sử dụng nhạc khí (riêng đánh trống là cả một phương cách tác dụng sinh lực nêu cao vẻ linh hoạt, khí thế của công trình nghệ thuật) để tìm hiểu hệ thống nhạc, hơn nữa đi sâu vào tâm hồn người nghệ sĩ, một điều rất cần thiết cho một nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học. Ca trù cũng như nhiều điệu hát dân gian ở Việt Nam như quan họ, hò Huế, ru con,…đòi hỏi nơi ca sĩ nhiều tâm huyết và cô đã biết đặt vào đây tất cả tâm hồn và trái tim của mình. Cô bảo cô như được một quyền lực thần thánh khai tâm để gắn bó với ca trù và cô vô cùng sung sướng khi được chìm ngập trong không khí nền ca nhạc dân gian ấy. Thật cảm động khi biết một tối tháng chín năm 2008 ở Tp Hồ Chí Minh, tại nhà bác sĩ Nguyễn Nhã, cô Aliénor Anisensel biểu diễn bài ca trù cổ Hồng hồng tuyết tuyết của Dương Khuê (1836-1898), "Hồng hồng tuyết tuyết.... Mới ngày nào còn chưa biết chi chi...Mười lăm năm thấm thoát có ra gì...Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu... " cử tọa gồm có nhiều nghệ sĩ và một số sinh viên ham mê ca trù tỏ vẻ vô cùng khâm phục. Giáo sư Trần Văn Khê đã "xúc động đến rơi lệ". Nghệ sĩ đàn đáy Nhị Hùng ngồi cạnh bên thì thầm : "Thật là một kỳ tài" ! Người kể chuyện bảo thành tích nầy càng đáng lưu ý khi biết ngày nay ca trù ngày ít được ưa thích trong giới trẻ, làm tôi nhớ đến điệu hát pansori huyền diệu xứ Hàn Quốc đang ở trên đường mai một….


hinh-2

Ban giám khảo(**) 


hinh-3

Phòng bảo vệ tiến sĩ


Ca trù là một bộ môn nghệ thuật độc đáo có mặt từ lâu đời ở nước ta. Giáo sư Trần Văn Khê từng khẳng định "Ca trù là một truyền thống xuất phát từ nước Việt, chứ không du nhập từ nưóc ngoài". Tuy vậy, nằm trong vùng văn hoá Trung Quốc, liệu có chút ảnh hưởng làn điệu phương Bắc nào không ? Ca sĩ lúc trước được gọi là ả đào hay cô đầu. Theo tác giả Lê Minh Quốc thì sách Công dư tiệp ký, cuối đời nhà Hồ, có ghi chuyện một ca nhi họ Đào, quê làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, có công đánh giặc nhà Minh, đuợc dân làng nhớ ơn lập đền thờ và thôn nàng được gọi là Ả Đào, về sau những người làm nghề như nàng đều được gọi là ả đào ; theo Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ thì dưới đời vua Lê Thái Tổ, con hát là Đào Thị có tiếng tốt và giỏi đàn nghệ, được mộ danh, vua thưởng, bắt đầu từ đấy phàm con hát đều cũng được gọi đào nương. Khi vào biễu diễn trong cung phủ thì gọi là hát cửa quyền. Vào lúc các quan có yến tiệc trong dinh hay ty (tơ), ả đào mời đến hát thì được gọi hát nhà tơ. Còn ở cửa đền, ả đào miệng hát tay múa làm điệu bộ nên được gọi hát nhà trò. Thường danh ca dạy dỗ, truyền nghề lại cho đệ tử, để tỏ lòng biết ơn, các đệ tử nầy khi đi hát đình đám đều trích lại một số tiền để phụng dưỡng thầy, gọi là tiền đầu, từ đấy ả đào được gọi cô đầu. Nếu cô đầu thuộc họ truyền thống hay nhà nòi thì được mang danh đầu nòi. Các ca sĩ ngoài họ muốn thành chuyên nghiệp phải được một họ truyền thống nhận làm con nuôi, dù thiện nghệ vẫn được đánh giá không thấm nhuẫn đủ tâm ca họ nên chỉ được gọi cô đầu ngoài. Các cô đầu chỉ được công nhận chính thức sau một buổi lễ ở nhà tổ gọi là lễ mở xiêm áo. Ở lễ nầy họ dược nhận trang phục của một đào nương là chiếc áo dài màu tía và chiếc khăn đen bao quanh mái tóc để lộ ra cái đuôi gà lịch sự của phụ nữ miền Bắc. Cũng cần nói thêm bên cạnh các cô đầu chuyên hát còn có những cô gọi là cô đầu rượu không biết hát mà có phận sự tiếp rượu cho khách trong những ca quán, lắm khi còn đáp ứng nhu cầu thư giãn đặc biệt những khách "ham chơi", dần dần làm tha hoá lối hát, thú vui tao nhã. Dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1460-1497), Quốc triều hình luật quy định quan hệ của các quan với con gái đàn bà làm nghề hát xướng, nếu cưới về làm vợ thì bị phạt trượng và có thể bị lưu đày. Theo Lịch triều hiến chương, con cái những ả đào, hát tuồng, hát chèo không được đi thi…cho đến đời vua Lê Dụ Tôn (1706-1709) luật lệ nầy mới được bãi bỏ. Nhưng ca trù cũng là nơi thi sĩ chia sẻ tâm sự, những người yêu tiếng hát, nhịp phách lại hoà mình với kẻ tri âm, không tiếc tiền thưởng đào nương tài hoa có khi đến khuynh gia bại sản, nên nhiều thi nhân đủ giới đua nhau lại mua vui ở ca quán. Trước 1945, Hà Nội đếm đến khoảng 2000 cô đầu và hơn 200 ca quán.

Ca trù là cách gọi Hán-Việt một loại hát xưa ở cửa đền mang tên Việt hát thẻ, trù có nghĩa là thẻ. Những thẻ nầy làm bằng mảnh tre, dài khoảng hai mươi phân, rộng hai phân rưởi, một bên trên khắc ba chữ phúc, lộc, thọ, dưới hai chữ ca trù, bên kia trên khắc số tiền biểu tượng giá trị của thẻ (ví dụ 10.000 đồng) và ba chữ phúc, lộc, thọ, dưới tên làng và hai chữ thẻ tre. Thẻ nầy là tiền công hay tiền thưởng tùy theo giá trị khắc trên thẻ quy ra mà trả. Người chỉ định thẻ thường là viên quan được mời đến đánh trống chầu – nguyên gốc từ triều đình - (hay trống con). Ông nầy có thể là một người giàu có trong làng, hay là tác giả những bài thơ trong thể thức hát ca trù, lại đánh trống là đánh nhịp cùng đào nương cho bài hát. Trong nhiều trường hợp lễ hội lớn, còn có trống cái đánh để thưởng khi hát hay đàn hay, người cầm chầu có thể xem như là ông điều khiển buổi biễu diễn. Cũng có khi cô đầu vừa hát vừa múa nhưng phần lớn các cô ngồi yên bất động, đối thoại với người nghe chỉ có âm thanh giọng hát, tiếng đàn và làn điệu bài thơ. Vì vậy đi thưởng thức ca trù hồi ấy là đi nghe hát chứ không phải xem hát. Thể lệ nầy tồn tại cho đến thời kỳ Cách mạng 1945 thì bị huỷ bỏ vì được cho là nghệ thuật giai cấp, phong kiến, đồi trụy như cải lương, vọng cổ; chỉ hát những điệu buồn. Trước đó ca sĩ và nhạc sĩ họp nhau lại thành họ có một ông trùm làm đại diện, nhiều họ góp lại thành giáo phường có ông quản giáp lo liệu mọi việc tổ chức những buổi trình diễn, sắp đặt lịch trình, chỉ định ca sĩ, nhạc sĩ, đào tạo, huấn luyện những người mới vào nghề,…Ngoài những lễ hội địa phương, hát thờ Tổ, hát cửa đình, hay những liên hoan tư gia, giáo phường có khi được mời vào Triều chúc hỗ thường để chúc thọ nhà vua mừng tin vui trong Triều. Năm 1924, nhân dịp tứ tuần vua Khải Định, một cô đầu cũng đuợc tuyển chọn để dự lễ đại khánh. Khi nhà Nguyễn tàn lụi (1945), cũng là lúc chiến tranh bùng nổ, giáo phường không còn hoạt động, mãi đến sau thời kỳ "đổi mới" ca trù mới được hoàn nguyên, khoảng vào năm 1965 ở Lỗ Khê. Sau đó, phải đợi đến 1991 mới thấy câu lạc bộ ca trù đầu tiên ra đời ở Hà Nội, tiếp theo hai chục câu lạc bộ khác thành lập vài năm sau ở ngoài bắc, còn ở Tp Hồ Chí Minh thì đến năm 2000 mới có.

hinh-4

hinh-5

Trình bày và thảo luận


Tuy không phải là cái nôi của ca trù, Huế đã tiếp xúc với nghệ thuật ca trù từ thuở nhà Nguyễn. Trên đà sáng tác của những tao nhân mặc khách trong nước như Nguyễn Công Trứ (1777-1849), Cao Bá Quát (1809-1855), Chu Mạnh Trinh (1862-1905), Tản Đà (1889-1939),…trong quan hệ giữa văn nhân và ả đào, trong cách thức thưởng thức ca trù, các thi nhân đất Thần kinh, các thi sĩ trong hoàng tộc cũng quen với lối hát nói đang thịnh hành trên miền Bắc. Cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1877-1961) có để lại tập Bán buồn mua vui với 42 bài hát nói ca trù bên cạnh những câu hò, hát nam, kể lại những kỷ niệm riêng tư vui, buồn, thương, giận với các cô đào Như Ý, Tuyết Ngọc. Trong một buổi gặp mặt bạn bè, cụ có cho nghe bài ca trù sau đây, biểu hiện phong cách một bài hát nói  :


Xuân phong vô dạng

Mình còn đây mà liễn điếu bạn đi đây
Xanh xanh đỏ đỏ chưng đầy
Hàng Nhựt có, hàng Âu Tây cũng có
Ngâm luật, ngôn ngôn giai cẩm tú
Ca trù tự tự tẫng châu ky
Những câu ca câu đối lại siêu kỳ
Thiệt chết cũng e khi mừng sống lại!
Huống thử bạch đầu xuân tự tại
Bảy mươi lăm xuân hãy còn xuân.
Ngỏ lời tạ đấng nhân văn.


Trong hai ngày 30 tháng 9 và 1 tháng 10 năm 2009, sau nhã nhạc cung đình Huế và không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên, sau nhiều năm chuẩn bị, đồng thời với quan họ được Tổ chức Văn hoá Giáo dục Liên Hiệp Quốc UNESCO ghi vào danh sách Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại đại diện của nhân loại, ca trù được ghi vào danh sách Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp. Đầu năm 2010 lại có tin Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long ra mắt thành Giáo phường Thăng Long, nối lại với lịch sử lúc ban đầu. Đây là một sự kiện được những người yêu thích ca trù và các nhà chuyên môn chú ý. Tuy nhiên báo chí phản ảnh những lo lắng không những cho giáo phường mà còn cả cho bộ môn ca trù từ quy mô tổ chức giáo phường qua trình độ chuyên môn của đào nương. Những cô trẻ có giọng không hợp, hát không đạt, hát như nhạc mới, không có chất ca trù. Vậy thì phải cải tân làm sao ? Tôi đã từng được nghe ý kiến của Giáo sư Trần Văn Khê về lãnh vực nầy. Cảnh cáo của anh rất rõ ràng : Đi tìm cái mới là con đường đầy chông gai và chưa chắc đã tìm thấy. Cho nên phải cẩn thận với sáng tạo. Làm mới vốn cổ là con dao hai lưỡi. Chúng ta không nệ cổ nhưng phải bảo tồn vốn cổ. Và cần cẩn trọng đừng để mất bản sắc cổ. Vì vậy các em chỉ nên xem đây là thể nghiệm, nên khiêm tốn lắng nghe đóng góp từ khán giả và các nhà nghiên cứu”. Vậy phải làm thế nào để phổ biến rộng rãi và lanh chóng ca trù ? Sau đây là ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, người đầu tiên ở Việt Nam làm luận án về ca trù và góp mặt trong hồ sơ ca trù trình lên UNESCO : "Ngày xưa, thời thịnh nhất của ca trù, nhu cầu về đào nương rất cao nhưng các cụ vẫn chọn người học rất kỹ lưỡng, ngoài đức hạnh phải xem giọng hát có đủ để học hát không. Để thành một đào nương thực thụ phải có rất nhiều tố chất. Ngay cả một người có chất giọng đẹp, lại được rèn cặp kỹ lưỡng bởi một đào nương già, mà không có khả năng cảm nhận văn chương, khả năng bắt được “nhãn tự”(chữ mắt, con mắt thơ) của bài thơ thì cũng khó mà hát cho hay được. Dù có cố khoe chất giọng vàng ngọc trời phú thì cũng là một giọng ca vô duyên mà thôi. Ca trù là một môn nghệ thuật bác học, hàn lâm. Cho nên không cần phải phổ cập và không thể phổ cập. Ngay cả thời hoàng kim của Ca trù, mỗi chầu hát cũng chỉ có 5 – 7 người nghe thôi. Hát cửa đình thì có vài chục quan viên chức sắc có chữ nghĩa trong làng thưởng thức. Ca trù không dành cho 5 – 7 chục, hoặc hàng trăm người. Cả nước chỉ cần có mươi giáo phường cũng là đủ. Vì thế, báo chí và truyền thông không nên tuyên truyền là cả nước phải học Ca trù, cả nước phải thích Ca trù. Điều đó dễ dẫn đến thái độ vội vàng, dung tục, dễ dãi cho những thứ chưa phải là chuẩn mực


hinh-6

hinh-7

hinh-8

Biểu diễn nhạc khí


Tương lai ca trù sẽ đầy chông gai nhưng không phải vì thể mà không vượt qua được. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện có lời căn dặn : "Vì thế, tôi mong giáo phường Ca trù Thăng Long hãy học cho thực đầy đủ, chuẩn mực và nghiêm túc, hãy bình tâm và bền lòng với di sản tổ tiên ! Hãy ráng học thật đầy đủ và chuẩn mực rồi hãy mở xiêm áo cho các thành viên…Đặc biệt, tuyệt đối không coi thường nghề tổ và làm sai lạc truyền thống! ". Để thể hiện một cuôc cải tân, đầu thu năm ngoái, ở Paris tôi được xem và nghe Hoàng Thị Kiều Anh cùng Trịnh Thu Hương biểu diễn ca trù qua tiếng đàn dương cầm, không quen nghe cũng lạ tai. Bên phần nhà sáng tác nhạc Tôn Thất Tiết, anh bạn đồng hương của tôi, thì cho hoà mình ca trù với nhạc hiện đại. Vừa rồi anh mời đoàn Ca trù Thái Hoà qua Pháp cùng biểu diễn với nhiều dàn nhạc, đặc biệt với đoàn Trio Antara (sáo, hạc cầm, vĩ cầm trầm), một cuộc hợp lưu êm tai, hấp dẫn. Đằng khác, cô Aliénor Anisensel, hôm 05 tháng 01 năm 2012, sau non mười năm khảo cứu, đã trình bày hành trình của mình qua cuộc đào tạo một đào nương trong buổi bảo vệ luận án tiến sĩ Văn chương và Khoa học nhân chủng (*) trên đề tài "Le sens d’une tradition élitiste dans le Vietnam contemporain – Pratiques, apprentissages et esthétiques du chant ca trù" (Ý nghĩa một truyền thống của giới tinh hoa ở nước Việt Nam hiện đại - Thực hành, học nghề, mỹ học của điệu hát ca trù). Đầu đề luận án chỉ rõ mục lục ba phần : phần thứ nhất miêu tả môn nhạc truyền thống về mặt thực tế ; phần thứ hai trình bày cách học tập ; phần thứ ba bàn luận về mặt thẩm mỹ để thử tìm hiểu ý nghĩa của cái tinh hoa ấy, phát xuất từ môi trường văn giới, trong một nước Việt Nam hiện đại dưới chính quyền cách mạng từ 1954. Cuộc khảo cứu dựa lên hai giả thuyết. Thứ nhất, quan sát thủ tục xã hội ca trù mở một cánh cửa để hiểu biết ý nghĩa tinh tú của truyền thống ấy. Thứ nhì, nếu ca trù đang còn mang tải một vốn tượng trưng tinh tú tất nhiên vốn ấy chính đã thấm đượm chất liệu thơ nhạc có thể phân tích ngay trong lòng quá trình truyền đạt và thành tích nhạc học. Luận án được toàn thể ban giám khảo (**) khen ngợi độc đáo, khảo cứu sâu xa, trình bày gọn ghẽ tuy có vài sơ suất về mặt dân tộc học (thư tịch, danh từ) và nhạc học (danh pháp), được chấm hạng Danh dự cao nhất "Mention très honorable avec félicitations du jury". Lời khen hết lòng nồng nhiệt được anh Trần Quang Hải, có mặt trong ban giám khảo, phát biểu là luận án đầu tiên về ca trù đầy đủ nhất (luận văn cao học của cô và những luận văn bên Hoa Kỳ rất sơ sài), nhấn mạnh ở điểm cô tuy là một nhà khảo cứu lại là một đào nương hiếm có biết chơi cả ba dụng cụ phách, trống, đàn đáy ! Cụ Nguyễn Quảng Tuân từ Việt Nam cũng có gởi ngay qua bài hát nói khen tụng.

Aliénor Anisensel thật đúng là một phụ nữ đầy năng khiếu và năng lực, thông thạo kỹ thuật biểu diễn hát, đàn, cô đã và sẽ là một nhà khảo cứu uyên thâm về môn dân tộc nhạc học, đặc biệt môn nhạc Việt Nam, qua lối nhìn với đôi mắt Tây phương vì tim cô đã thấm đượm ca trù rồi.

Xin cám ơn đào nương Thuý Hoà đã vui lòng đọc bản thảo và góp ý kiến


Võ Quang Yến

Xô thành Tết Nhâm Thìn 2012



Tài liệu


- Lê Minh Quốc, Đinh Lễ - Bạch Hoa, Tổ ca trù, trong Các vị tổ ngành nghề Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh 1988

- Aliénor Anisensel, "La perle Ca trù" Un patrimoine musical à présever, Carnets du Vietnam 12 09.2006

- Aliénor Anisensel, Tambour et effet de vie dans la tradution du Ca trù, 3ème Congrès du Réseau Asie IMASIE, Paris 26-28.09.2007

- Long Sơn, Une jeune Française amoureuse du ca trù, Courrier du Vietnam 30.11.2008

- Aliénor Anisensel, Chanter le ca trù au village de Lỗ Khê (nord du Viet-Nam : une fête rituelle au temple communal et à la maison des patrons du métier de ca trù, Péninsule 59 2009

- Nguyễn Xuân Diện, Quan họ và ca trù – Hai di sản văn hoá nhân loại, Tạp chí Sông Hương 252, 02.2010

-Võ Quang Yến, Hoà mình ca trù vào nhạc hiện đại, Diễn Đàn Forum, 19.01.2012



Chú thích


(*) Cô Aliénor Anisensel không bao giờ bảo vệ luận án tiến sĩ ở Tp Hồ Chí Minh như có báo Việt Nam đã loan tin. Cô cũng không có bảo vệ luận văn thạc sĩ mà là luận văn cao học. Có sự lẫn lộn do từ lâu ở Pháp, bằng agrégation, ta dịch là thạc sĩ, chỉ cuộc thi tuyển giáo sư trung học (sau bằng cử nhân như Phạm Duy Khiêm), hoặc giáo sư đại học Luật học (sau bằng tiến sĩ như Nguyễn Văn Bông) và giáo sư đại học Y khoa (sau bằng bác sĩ như Phạm Biểu Tâm).

(**) Ban giám khảo gồm có sáu vị (thứ tự từ trái qua mặt trong ảnh) : Giám đốc thực nghiệm EPHE/EFEO sử gia Philippe Papin, báo cáo viên thứ nhất, chủ tịch (4) ; Giáo sư dân tộc nhạc học François Picard Paris-IV Sorbonne, báo cáo viên thứ nhì (2) ; Giám đốc nghiên cứu CNRS Gilles Tarabout, chủ nhiệm luận án (6) ; Giảng viên Jean Lambert, nhân viên của Trường tiến sĩ " Môi trường, Văn hoá và Xã hội Quá khứ và Hiện tạỉ (5) " ; bà Đặc nhiệm nghiên cứu CNRS dân tộc nhạc học Dana Rappoport, Trung tâm Đông Nam Á (3) và Nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học Trần Quang Hải CNRS hưu trí (1).


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss