Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Về cuộc kháng chiến chống quân Minh (4)

Về cuộc kháng chiến chống quân Minh (4)



Thực lục về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm
dưới thời quân Minh cai trị (4
)

Hồ Bạch Thảo



Xem các phần trước : (1)(2), (3)



Năm Kỷ Hợi [1419]


Trong năm này nhiều cuộc nổi dậy xẩy ra, nên quân Minh phải đánh dẹp rất vất vả. Trước hết hãy đề cập tiếp đến lực lượng của Bình định vương Lê Lợi tại Thanh Hoá, Cương Mục chép như sau :

Tháng 4, mùa hạ. Bình Định vương đánh đồn Nga Lạc (1), bắt được chỉ huy Minh, Nguyễn Sao. Rồi Vương lại lui giữ núi Chí Linh. Quân Minh kéo đến bức bách. Đô tổng quản Lê Lai chịu chết thay Vương. Vương tấn công đồn Nga Lạc, bắt được chỉ huy Minh, Nguyễn Sao, đem chém. Nhưng bấy giờ thế lực của giặc còn đang mạnh ; về phía Vương, tướng còn hiếm, quân còn ít, lại đánh nữa, không thắng được địch. Vương chạy vào Trịnh Cao, rồi lui giữ núi Chí Linh. Quân Minh thường đến đánh úp : tình hình phía Vương khốn quẫn quá ! Vương phải nhóm họp các tướng, dụ bảo họ rằng : " Bây giờ ai có thể làm như Kỷ Tín (2) xưa, để ta ẩn náu trong rừng núi, mưu tính cử sự về sau ? ". Trong các tướng chẳng ai dám đáp ứng cả. Riêng có Lê Lai khảng khái xin vâng, tình nguyện trao đổi đồ mặc với Vương để đi chết thay. Lê Lai liền cho sắp xếp nghi trượng chỉnh tề, chính mình đem quân và voi, hướng ra phía địch, chỉ huy các tướng chia đường khiêu chiến. Tướng Minh lấy thêm quân bao vây Lê Lai. Lai chiến đấu kiệt sức, bị người Minh bắt và giết chết. Địch bèn rút quân về Tây Đô. (3) 

Toàn Thư chép thêm : 

Tháng 5 vua đóng tại sách Ðà Sơn, quân Minh tiến đánh. Vua phục kích tại Mường Chánh (4), cả phá quân giặc, rồi dời quân đến đóng tại sách Lư Sơn, ít lâu sau dời sang Mường Thôi, rồi lại về đóng bản doanh ở Vu Sơn (5).

Riêng Minh Thực Lục chép rằng quân của Bình định vương Lê Lợi thường giao tranh với quân Minh tại vùng Lam Sơn, rồi rút lui sang Ai Lao ; phải chăng muốn nói đến địa danh Mường Thôi (6) mà Toàn Thư đề cập ở trên, vì Mường Thôi nằm tại vùng biên giới Ai Lao :

Ngày mồng 2 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [26/5/1419]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân tâu rằng đầu sỏ giặc Lê Lợi trú tại sách Khả Lam. Sai Đô đốc đồng tri Phương Chính, Đô chỉ huy Sư Hữu mang quân đánh ; bắt được bọn ngụy Cấm vệ tướng quân Nguyễn Cá Lập. Số còn lại chạy trốn sang Lão Qua ; bèn lưu Đô Chỉ huy Hoàng Thành, Chu Quảng giữ đồn Khả Lam, bọn Chính trở về Giao Chỉ. Lê Lợi lại xuất hiện đánh phá, giết Tuần kiểm Vương Cục, Lương Hướng rồi đi. Thành mang quân truy kích, giặc thua chạy. Gặp mưa nắng nước dâng, lam chướng mới nổi lên, xin đợi mua thu tiến binh. Được chấp thuận. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2137; Thái Tông q. 212, tr. 1a)


Ngày 10 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [30/8/1419]

Lê Lợi đầu đảng giặc tại Thanh Hoá, Giao Chỉ ; mang quân đánh phá Lỗi Giang (7), bị bọn Đô chỉ huy Hoàng Thành đánh thua, lại chạy sang trốn tại Lão Qua. (Minh Thực Lục q. 215, tr. 2151; Thái Tông q. 215, tr.1a)

Cùng trong tháng 8/1419, tại Nghệ An có cuộc nổi dậy của hai nhân vật đầu não theo giặc, đó là Tri phủ Nghệ An Phan Liêu và Chỉ huy vệ Nghệ An Lộ Văn Luật. Lúc quân nổi dậy đang vây thành Nghệ An, thì Phong thành hầu Lý Bân đích thân tiếp cứu, nên buộc phải rút lui về châu Ngọc Ma tại vùng thượng du Nghệ An :


Ngày 11 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [31/8/1419]

Viên Thổ quan Giao Chỉ giữ chức Tri phủ Nghệ An Phan Liêu là con Quý Hữu. Trước đây Quý Hữu theo Trần Quý Khoách làm Thiếu bảo nguỵ. Bị đại quân đánh, thế cùng Quý Hữu bèn sai Liêu đến cửa quân xin hàng. Quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ theo chế độ ban cho Quý Hữu chức Phó sứ ty Án Sát coi phủ Nghệ An, lại ban cho Liêu chức quan. Quý Hựu chết, cho Liêu thừa kế cha nhậm chức này. Nhân Mã Kỳ bạo ngược phi lý, Liêu bèn làm phản tại huyện Nha Nghi (8), cùng viên thổ quan Thiên hộ Trần Đài tụ tập đám đông đốt phá châu huyện giết quan lại ; viên thổ quan chỉ huy vệ Nghệ An Lộ Văn Luật cũng đi theo. Quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân mang quân đến đánh, bọn giặc tan, Liêu chạy đến châu Ngọc Ma (9) nương dựa viên thổ quan Tri châu Cầm Trách, Bân sai người truy bắt. (Minh Thực Lục v.14, tr. 2152 ; Thái Tông q. 215, tr. 1b)

Tại Phủ Thanh Hoá, lại có thêm cuộc nổi dậy của Phạm Nhuyễn tại huyện Nga Lạc, bị Ðô Chỉ huy Từ Nguyên đánh bắt được :

Ngày 1 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [19/10/1419]

Bọn phản loạn Giao Chỉ Phạm Nhuyễn tụ tập tại sách Cự Lặc, huyện Nga Lạc. Ngày hôm nay quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Từ Nguyên mang quân bắt được, bèn chém bọn Nhuyễn để thị chúng. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2161 ; Thái Tông q. 217, tr. 1a)

Tháng 11/1419 xẩy ra 2 cuộc nổi dậy của dân đãi vàng, thứ nhất xẩy ra tại huyện Phù Lưu [Nghệ An] do Vũ Cống chỉ huy ; thứ hai tại huyện Ðồng Lợi, châu Hạ Hồng [Hải Dương] do Trịnh Công Chứng cầm đầu. Ngoài ra còn có các cuộc nổi dậy của anh em Trần Trực Thành tại Nghệ An, Nông Văn Lịch tiếp tục đánh phá tại phủ Lạng Sơn, Trần Ðại Quả nổi lên tại châu Vũ Ninh [Bắc Ninh], Nguyễn Ðặc tại châu Khoái [Hưng Yên], Ngô Cự Lai tại châu Thiên Thệ [Bắc Ninh] :

Ngày 1 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [17/11/1419]

Ty Đô Chỉ huy Giao Chỉ tâu rằng tại huyện Kệ Giang (10), phủ Nghệ An có tên thổ quan Bách hộ Trần Trực Thành, cùng em là Trực Nguỵ tự xưng Kim Ngô Tướng quân ; cùng bọn Lãm Bàn giặc Áo Đỏ cướp phá xã Dương Biến giết tuần kiểm Trương Tú. Vũ Cống người trong hộ đãi vàng liên kết với kỳ lão Hoàng Nhữ Điển tụ tập dân chúng đốt phá huyện Phù Lưu (11). Các nhóm nổi dậy tại huyện Khâu Ôn (12) có Nông Văn Lịch, châu Vũ Định [Ninh] (13) có Trần Đại Quả, châu Khoái (14) có Nguyễn Đặc, huyện Thiện Thệ (15) có Ngô Cự Lai tiếp tục trước sau làm loạn giết hại quan binh. Tại huyện Đồng Lợi, châu Hạ Hồng, phủ Tân An, viên Xã chính coi việc đãi vàng là Trịnh Công Chứng tụ tập đám đông hơn 1000 người đốt phá bắt giết quan lại tại các ty tuần kiểm thuộc các huyện Đa Dực, Đồng Lợi, châu Hạ Hồng (16) và cửa biển sông Đản. Đô đốc Phương Chính mang quân đánh dẹp đánh bại giặc tại Đồng Lợi. Thám thính cho biết trước đó bọn chúng đến châu Nam Sách, bèn truy kích kịp thời đánh dẹp tại ty tuần kiểm A Côi (17) chém hơn 400 thủ cấp, số giặc chết trôi tính không hết ; Công Chứng bèn chạy trốn. Sắc dụ quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân mang quân đánh bắt. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2165-2166; Thái Tông q. 218, tr. 1a-1b)

Ngoài ra còn phải kể thêm nhóm Vũ Liên, Vũ Lợi tụ tập dân nổi dậy tại châu Thượng Hồng, phủ Lạng Giang [Hải Hưng] (18). Nguyễn Ða Cấu và Trần Nhuế ở Hoàng Giang (19) thấy thành Ðông Quan [Hà Nội] chỉ còn những quân lính ốm yếu, bèn dấy quân tiến đánh. Quân đến Lô Giang, đánh phá được cầu phao, nhưng ít lâu sau bị quân Lý Bân đánh bại (20)

Trong các nhóm mới nổi lên, vua Minh Thái Tông lưu ý đến Phan Liêu, nên gửi chiếu thư đòi đánh dẹp gấp :


Ngày 16 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [3/11/1419]

Thiên tử ban mệnh cho Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân :

Mặc dù giặc Phan Liêu tại Nghệ An đã bị đánh tan, nhưng chúng vẫn còn tồn tại. Trong một thời gian ngắn, ngươi cần chỉnh đốn quân ngũ tiêu diệt chúng như nhổ gốc, không để sót mối lo trong dân. ” (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2163; Thái Tông q. 217, tr. 2a)

Do đó Phong thành hầu Lý Bân đích thân chỉ huy cuộc hành quân lớn tại tỉnh Nghệ An, nhưng chỉ đuổi được bọn Phan Liêu ra khỏi biên giới để rồi tiếp tục trốn tránh tại Lão Qua :


Ngày 6 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [23/11/1419]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân đến châu Ngọc Ma dẹp giặc ; đầu đảng giặc bọn Phan Liêu cùng giặc Áo Đỏ hơn 1000 tên chống cự bị quan quân đánh bại. Bắt sống Tù trưởng giặc Áo Đỏ là bọn Nửu Môn, Diệp Để ; bọn Liêu, Lộ Văn Luật, Trần Văn, Trần Tử Trực và quân còn lại bỏ trốn. Quan quân tiến đến mường Cự Đàm, núi Bồ Đàm thuộc châu Ngọc Ma ; giặc cậy hiểm đóng trại phòng thủ, bèn đánh phá. Bọn Liêu chạy sang Lão Qua ; lại sai Đô chỉ huy Tiết Tụ tiến đánh bắt được đồng đảng giặc là bọn Hồ Tử Kính cùng giặc Áo Đỏ là Thượng Bì, Thượng Tướng hơn 300 người.

Trước đó sai Bố chánh ty sứ Giao Chỉ Nguyễn Huân, Chỉ huy Trần Nguyên Khôi giữ sông Ác bắt được tên phản loạn Thiên hộ châu Nam Linh Trần Thuận Khánh, Bách hộ vệ Nghệ An Trần Trực Thành đem chém. Đô đốc Phương Chính, Tham chính Mã Ánh cũng bắt và giết đầu đảng giặc Trịnh Công Chứng tại Đồng Lợi, đồng đảng giặc là Lê Điệt bỏ trốn. (Minh Thực Lục v.14, tr. 2167-2168 ; Thái Tông q. 218, tr.2a-2b)

Ðang lo đánh dẹp tại Nghệ An, thì ở miền Bắc lại xẩy ra những mối lo khác. Tại châu Gia Lâm [Bắc Ninh] quân của Ðào Cường chiến thắng trong một cuộc phục kích, bèn chuẩn bị vượt sông đánh thành Giao Châu [Hà Nội], Lý Bân phải điều động quân kỵ mới ngăn chặn được :


Ngày 28 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [14/12/1419]

Tại huyện Thiện Tài, châu Gia Lâm, Giao Chỉ, Đào Cường làm phản. Đô Chỉ huy Lưu Chấn, Vu Tán, Ngô Hưng mang quân đánh dẹp. Bọn Chấn không nghiêm cấm, nên quân sĩ buông thả cướp phá. Giặc giả bộ vứt đồ vật bỏ chạy, rồi đặt phục binh đón đợi. Quan quân bi bại, giặc đưổi tới sông Phú Lương, định vượt sông. Đô Chỉ huy Trần Tuấn ra sức đánh, nên ngăn được. Nhưng thế giặc mạnh thêm, quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân sai ngay bọn Đô Chỉ huy Cảnh Vinh mang kỵ binh đi đánh, giặc bèn rút lui. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2169; Thái Tông q. 218, tr. 3a)

Tại phủ Phụng Hoá [Nam Ðịnh], quân Minh cầm đầu bởi Ðô Chỉ huy Trần Trung, đánh bại quân nổi dậy của Lê Ðiệt và Trần Dĩ Luật :


Ngày 3 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [19/12/1419]

Bọn Đô Chỉ huy Trần Trung tại Giao Chỉ đánh bại đảng giặc Lê Điệt tại sông Tiểu Hoàng huyện Kiến Xương bắt sống 350 tên, đốt cháy trên 160 chiếc thuyền. Tiếp tục truy kích đến xã Cổ Lôi, huyện Tây Chân, phủ Phụng Hoá đánh bại bọn giặc Trần Dĩ Luật chém hơn 600 tên, đốt hơn 250 chiếc thuyền. (Minh Thực Lục v. 14 tr. 2171; Th ái Tông q. 219, tr. 1a)

Tại phủ Kiến Bình [Ninh Bình], Lý Bân sai Chỉ huy Phương Chính đánh dẹp, nhưng chưa giết được chủ tướng Ðinh Tông Lão :

Ngày 8 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [24/12/1419]

Ngày hôm nay các huyện như Đại Loan thuộc phủ Kiến Bình, Giao Chỉ, có bọn giặc Đinh Tông Lão làm loạn. Quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân sai Chỉ huy Giao Châu hậu vệ Phương Chính đốc xuất quân đánh dẹp. Giặc thua chạy, chém hơn 400 tên, đều bị bêu đầu để làm răn. (Minh Thực Lục v. 14 , tr.2173; Thái Tông q.219, tr. 2a)

Riêng Lý Bân đích thân chỉ huy hai cuộc hành quân : thứ nhất tiếp tục truy đánh quân Lê Ðiệt tại phủ Trấn Man [Thái Bình] :


Ngày 11 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [27/12/1419]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân truy đánh bọn Lê Điệt tại huyện Đình Hà phủ Trấn Man, đánh bại giặc mấy lần ; chém hơn 500 tên, bắt sống bọn nguỵ Kim ngô tướng quân Vũ Lộ. (Minh thực Lục v. 14, tr.2173; Thái Tông q.219, tr. 2a)

Thứ hai, mở cuộc hành quân lớn tại châu Ðông Triều [Quảng Ninh] tấn công lực lượng nổi dậy của sư ông Phạm Ngọc tu tại chùa Ðồ Sơn, bắt được tướng là Phạm Thiện ; rồi làm cuộc tàn sát lớn, giết tù binh có đến mấy trăm người :


Ngày 15 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [31/12/1419]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân bắt được Tù trưởng giặc Phạm Thiện tại châu Đông Triều. Trước đây tên yêu tăng Phạm Ngọc tại chùa Đồ Sơn, huyện An Lão phao rằng trời giáng ấn kiếm, lệnh làm chúa ; bèn tiếm xưng La Bình vương, kỷ nguyên Vĩnh Ninh, tụ tập đám đông làm loạn. Bọn Thiện và Đào Thừa đến theo. Ngọc cho Thiện làm Nhập Nội Kiểm Hiệu Tả Tướng quốc Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Ngô Trung làm Nhập Nội Hành khiển Hữu Thượng thư Tri Quân Quốc Trọng Sự, Đào Thừa làm Xa Kỵ Đại Tướng quân, Lê Hành làm Tư không, tụ tập đám đông chiếm cứ đường thủy và bộ. Lúc đại quân đến đánh, Thiện dàn quân hai bên bờ, lại bày thuyền giữa sông, thuỷ bộ cùng chống cự. Bân xua quân đánh gấp, chém 1200 thủ cấp, bắt sống Thiện cùng bọn Trung gồm 780 người, tịch thu hơn 200 chiếc thuyền lớn nhỏ, Ngọc tẩu thoát ; lại bắt quân giặc hơn 260 tên, bèn xử chém để răn. Thiện, Trung, cùng bọn Vũ Lộ đều bị giải về kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2174; Thái Tông q 219, tr. 2b)


Chú thích

1. Nga Lạc : ở gần Lam Sơn, thuộc vùng Bái Thượng, Thanh Hoá ngày nay.

2. Trung thần của Hán Cao Tổ. Khi Cao Tổ bị Hạng Vũ vây ở núi Huỳnh Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), tình hình nguy ngập quá, Tín phải ăn mặc giả làm Cao Tổ, thay Cao Tổ ra đầu hàng : bị Hạng Vũ đốt chết. Còn Cao Tổ nhờ đó trốn thoát.

3. Cương Mục, sđd, trang 357.

4. Mường Chánh : huyện Lang Chánh, Thanh Hoá sau này.

5. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 242.

6. Mường Thôi : Theo Toàn Thư có lẽ là Man Xôi, ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hoá, giáp Lào.

7. Lỗi Giang : một nhánh sông Mã tại huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hoá.

8. Nha Nghi : Theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ., Sđd, Nha Nghi tức huyện Nghi Xuân, thuộc tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.

9. Ngọc Ma : Châu miền thượng du phủ Nghệ An.

10. Huyện Kệ Giang : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ., Sđd, huyện Kệ-Giang vị trí phía bắc huyện Thanh Chương, Nghệ An hiện nay.

11. Huyện Phù Lưu : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện Phù Lưu thuộc phạm vi huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An ngày nay.

12. Huyện Khâu Ôn : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện Khâu Ôn thuộc tỉnh Lạng Sơn hiện nay.

13. Châu Vũ Ninh: theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. châu Vũ Ninh thuộc tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

14. Khoái châu : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. Khoái châu thuộc tỉnh Hưng Yên.

15. Huyện Thiện Thệ : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện Thiện Thệ đời Minh tương đương với huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

16. Châu Hạ Hồng : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. châu Hạ Hồng thuộc tỉnh Hải Dương hiện nay.

17. Huyện A Côi : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện A Côi thuộc phía bắc tỉnh Thái Bình hiện nay.

18. Minh Nghiên Cứu, Sđd trang 95.

19. Lộ Hoàng Giang thời Trần, Hồ tức phủ Kiến Bình thời Minh thuộc ; theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. hiện nay thuộc tỉnh Nam Định, Ninh Bình.

20. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 243.


Năm Canh Tý [1420]


Lúc này tình hình tại các phủ, huyện xung quang thành Ðông Ðô [Hà Nội] vẫn còn bị đe doạ, Lý Bân bèn mang quân đánh Lê Hành, Ðào Cường tại huyện Ða Cẩm thuộc phủ Lạng Giang [Hải Hưng] :


Ngày 26 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [11/1/1420]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân mang quân tới phủ Lạng Giang. Tin điệp báo cho biết Tù trưởng giặc Tư không Lê Hành, nguỵ Kim Ngô Đại Tướng quân Đào Cường tụ tập lực lượng hơn 8000 tên lập trại tại xã Ma Lãng, huyện Đa Cẩm (1) ; bèn tiến binh tiễu trừ. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2180; Thái Tông q. 219, tr. 5b)

Sau hai ngày hành quân truy kích, quân của Lý Bân đánh thắng, giết chết Ðào Cường :


Ngày 28 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [13/1/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân mang quân tới huyện Thiện Tài, gặp toán du binh của giặc hơn 1000 tên, đánh bại chúng rồi đuổi đến xã Ma Lãng. Giặc bỏ trống trại ra giao chiến, quan quân lại đánh bại ; bắt giết Đào Cường, cùng tướng sĩ của chúng hơn 3500 tên. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2181-2182; Thái Tông q. 219, tr. 6a-6b)

Riêng phía tây thành Ðông Ðô, Cấn Sư Lỗ và Phạm Công Trịch nổi lên tại huyện Thạch Thất [Hà Tây], Trịnh Công Chứng chuyển quân từ châu Oai Man [Hà Tây] sang Gia Lâm [Bắc Ninh] ; Lý Bân phải sai quan đi đánh dẹp. Tại Thanh Hoá thì quân của Ðô Chỉ huy Từ Nguyên tiếp tục dằng co với Bình Định Vương Lê Lợi tại vùng Lỗi Giang :


Ngày 4 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 18 [18/1/1420]

Giặc Giao Chỉ Cấn Sư Lỗ, Phạm Công Trịch tụ dân làm loạn. Quan Tổng binh Lý Bân sai người đến huyện Thạch Thất giao chiến. Sư Lỗ thua chạy, chém được bọn Dực vệ tướng quân Cấn Hoạch hơn 150 người. Lúc bấy giờ Công Chứng tại châu Oai Man nghe tin đưa quân về Khoái Châu. Nhưng bị Đô chỉ huy Giao Chỉ Tôn Lâm đánh tại huyện Thiện Tài, châu Gia Lâm, giết bọn tướng giặc Phạm Trầm, bắt sống đầu đảng giặc Lê Hành.

Giặc Lê Lợi tại Thanh Hoá tụ tập quân đóng trại tại Lỗi Giang, bị Đô chỉ huy Từ Nguyên suất quân công phá, Lợi chạy trốn. (Minh Thực Lục v.14, tr. 2185; Thái Tông q. 220, tr.1a)

Trước tình hình loạn lạc xẩy ra khắp nơi, vua Minh Thái Tông xuống chiếu quở trách Phong thành hầu Lý Bân ; cùng điều thêm quân từ các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam đến và bổ nhiệm Vinh dương bá Trần Trí sang phụ tá cho Lý Bân :

Ngày 18 tháng giêng nhuần năm Vĩnh Lạc thứ 18 [4/3/1420]

Sắc dụ quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân rằng :

Trẫm ra lệnh người cai trị một phương, muốn cho quân dân được yên chổ; nay để cho giặc giã nổi lên rầm rộ, làm sao ngươi từ chối trách nhiệm được. Nay điều quân từ các xứ Vân Nam, Tứ Xuyên; quan quân nhiều ngươi phải hết sức trù tính sớm diệt bọn giặc. Nếu lần lữa ngày tháng, khiến bọn giặc ngày một lớn, thì căn cứ vào quốc điển khó mà khoan thứ được. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2191; Thái Tông q. 221, tr. 2a)


Ngày 21 tháng 3 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [3/5/1420]

Mệnh Vinh dương bá Trần Trí giữ chức Tả tham tướng phụ tá Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân trong việc đánh dẹp man di phản loạn. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2201 ; Thái Tông q. 223, tr. 3a)

Có thêm quân, thêm tướng ; Lý Bân buộc phải tỏ ra năng nổ hơn ; đánh tan quân nổi dậy của Lê Ðiệt tại phủ Trấn Man [Thái Bình, Nam Ðịnh].


Ngày 4 tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [16/5/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Trương Quý đánh giặc Lê Điệt tại huyện Đình Hà, phủ Trấn Man (2), bắt sống nguỵ Long Hổ Đại Tướng quân Đinh Thung, riêng tên Điệt mang dư đảng trốn. Bân tự xuất binh đánh bắt, do đó nguỵ Long Hổ Tướng quân Phan Dương, Phạm Canh đều hàng. Quân của Bân truy kích đến cùng, bắt sống Điệt, vợ y, cùng tướng giặc Nguyễn Thừ, Đỗ Đức Lăng, Nguyễn Như Lôi, giết trên 600 người, cùm giải bọn Điệt về kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2205; Thái Tông q. 224, tr. 1a)

Lại bắt được thủ lãnh cuộc nổi dậy tại Ðông Triều là Sư ông chùa Ðồ Sơn, La Bình vương Phạm Ngọc :


Ngày 20 tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [1/6/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân bắt cựu thủ lãnh giặc nguỵ La Bình vương Phạm Ngọc. Trước đây Ngọc thua bỏ chạy, lại trở về châu Đông Triều tụ tập đám đông cướp phá ; cuối cùng bị bắt, cùm giải về kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, t 2206; Thái Tông q. 224, tr. 1b)

Tuy nhiên qua sự theo dõi tình hình một cách chặt chẽ của vua Thái Tông, thì việc làm của Lý Bân vẫn chưa đạt được yêu cầu ; vì chưa dẹp được những cuộc nổi dậy lớn của Lê Lợi, Phan Liêu, Xa Tam, Nông Văn Lịch :


Ngày 10 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [20/6/1420]

Sắc dụ quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân rằng bọn phản loạn Phan Liêu, Lê Lợi, Xa Tam, Nông Văn Lịch đến nay vẫn chưa bắt được, không biết việc binh đến khi nào mới hết, dân đến lúc nào mới được yên ; nên ngày đêm hết lòng trù hoạch phương lược, sớm diệt bọn giặc này, để khỏi phụ sự uỷ nhiệm của Trẫm. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2211 ; Thái Tông q. 225, tr. 1a)

Lý Bân sai Ðô Chỉ huy Chu Quảng làm cuộc càn quét lớn bắt được các nhóm nổi dậy khác như Khai thánh vương Nguyễn Ða, Chiêu tín hầu Ðàm Dữ Bang, Tư đồ Ngô Gia, Thái sư Vi Ngũ :


Ngày 15 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [25/6/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Chu Quảng đánh bắt được bọn nguỵ Khai Thánh vương Nguyễn Đa, nguỵ Chiêu Tín hầu Bình chương Quân quốc trọng sự Đàm Dữ Bang, nguỵ Nhập Nội Kiểm hiệu Bình chương Tư đồ Nguyễn Gia, nguỵ Thái sư Trung liệt công Vi Ngũ ; lại bắt vợ con, cùng ấn nguỵ ; đem tất cả đến kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2212; Thái Tông q. 225, tr. 1b)

Tại đây cần có sự đối chiếu giửa hai bộ sử Hoa, Việt : Minh Thực Lục chép lực lượng của Bình Định vương Lê Lợi giết hai viên quan cao cấp của nhà Minh là Hữu Tham chính Giao Chỉ Hầu Bảo, và Tả Tham chính Phùng Quý. Riêng Toàn Thư (3) chép rằng :

Hầu Bảo giữ đồn Hoàng Giang, bị Nguyễn Thuật người Kiến Xương (4) đánh giết.

Vậy phải chăng Nguyễn Thuật là bộ hạ của Bình Định vương Lê Lợi, lại theo Ð.N.V.N.Q.C.Ð. của Ðào Duy Anh thì lộ Hoàng Giang tức phủ Kiến Bình đời Minh, nay thuộc các tỉnh Nam Ðịnh, Ninh Bình. Nếu vậy thì tại thời điểm năm Vĩnh Lạc thứ 18 [1420] quân của Bình Định vương Lê Lợi đã có mặt tại hai tỉnh miền Bắc gần Thanh Hoá. Sau đây là văn bản trong Minh Thực Lục về vụ giết hai Tham chính Hầu Bảo và Phùng Quý :


Ngày 23 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [3/7/1420]

Giao chỉ Hữu Tham chính Hầu Bảo đốc suất dân binh chống giặc tử trận. Tả Tham chính Phùng Quý cũng đánh giặc tử trận.

Bảo người đất Tán Hoàng, Chân Định ; từ Sinh viên Quốc Tử bổ dụng làm Tri huyện 3 huyện Cổn Thành, Cống Du, Đôn Hưng ; rành việc hành chính. Lúc mới lập Giao Chỉ, chọn người cai trị phủ huyện, bèn thăng Bảo làm Tri phủ Giao Châu, rồi được thăng chức Hữu Tham chính Giao Chỉ. Bấy giờ giặc Lê Lợi cướp phá các quận, huyện tại vùng Hoàng Giang (1), Bảo đôn đốc dân binh xây đồn tại các nơi quan trọng để chống cự. Giặc đến đánh, bọn Bảo đánh không thắng, bị chết.

Quý người đất Vũ Lăng, Hồ Quảng ; trúng Tiến sĩ giữ chức Binh khoa Cấp sĩ. Lúc Anh quốc công Trương Phụ giữ chức Tổng binh chinh phạt Giao Chỉ, Quý đôn đốc lương thực, cần lao gắng sức. Được tâu công việc hoàn thành xứng chức, chiếu chỉ thăng chức Giao Chỉ Hữu Tham nghị ; rồi giữ chức Đề đốc các hầm mỏ vàng bạc, thăng chức Tả Tham chính. Biết cách chiêu tập dân lưu vong quy phụ, có một đội thổ binh hơn 2000 người, đều dõng cảm chịu chiến đấu ; mỗi lần ra quân đánh nhau đều lập công. Sau bị Trung quan Mã kỳ ghen tỵ, đoạt hết thổ binh ; đến lúc Lê Lợi làm phản quân mạnh, Quý chỉ có vài trăm lính đến đánh. Binh ít gặp quân giặc đông, Quý ra sức đánh rồi tử trận. Bảo lo chính trị thanh liêm khoan thứ, Quý có tài ; tử trận mọi người đều tiếc. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2213; Thái Tông q. 225, tr. 2a)

Tiếp đến cũng cần nêu thêm điểm dị đồng giữa Toàn ThưMinh Thực Lục về việc Bình Định vương Lê Lợi giao tranh với quân Minh trong tháng 10 Âm lịch, tại vùng biên giới Việt Lào. Cả hai nguồn đều xác nhận có Phương Chính chỉ huy đạo quân Minh, tuy nhiên Toàn Thư khẳng định rằng Bình Định vương thắng, Minh thực Lục chép quân Minh thắng. Sau đây là sử liệu trong Toàn Thư (5) : 

Mùa đông tháng 10, vua nghe tin quân Minh sắp đến, đặt mai phục ở bến Bổng (6) chờ giặc, chém giết quân giặc nhiều vô kể, bắt được hơn 100 con ngựa. Vua cho nghỉ chân tại Mường Nanh, rồi lại dời quân đến Mường Thôi. Tên Ðồng tri Quỳ Châu là Cầm Lạn dẫn bọn Lý Bân, Phuơng Chính đem hơn 10 vạn quân theo đường Quỳ Châu đến thẳng Mường Thôi (7). Vua phục kích chúng ở Thi Lang. Bân và Chính chỉ chạy thoát được thân mình.

Tháng 11, vua tiến quân đóng ở sách Ba Lẫm thuộc huyện Lỗi Giang, khiêu khích cho giặc ra đánh. Tướng giặc là bọn Ðô ty Tạ Phượng, Hoàng Thành bỏ đồn Nga Lạc về giữ trại Quan Du (8) để phòng bị cho thành Tây Ðô, cố giữ không ra đánh. Vua ngày đêm dùng nhiều cách tiến công uy hiếp để giặc mỏi mệt, rối loạn. Lại sai Lê Sát, Lê Hào chia nhau đến đánh, cả phá bọn giặc, chém được hơn ngàn thủ cấp, thu được rất nhiều chiến cụ, từ đó thế giặc ngày một suy. Vua bèn chiêu tập nhân dân các xứ. Các huyện bên cạnh đều sôi nổi hưởng ứng, cùng nhau tiến đánh và uy hiếp các đồn giặc.

Riêng Minh Thực Lục chép như sau :

Ngày 25 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [30/11/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân sai Hậu vệ Giao Châu Chỉ huy sứ Phương Chính truy kích Lê Lợi, đánh bại giặc tại sông Mường Tâm, Lão Qua ; Lợi bỏ trốn. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2231 ; Thái Tông q. 230, tr. 2a)


Chú thích

1. Huyện Đa Cẩm : thời Minh cai trị thuộc châu Thượng Hồng, phủ Lạng Giang. Theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. nay thuộc huyện Cẩm Giàng, phía tây tỉnh Hải Dương.

2. Phủ Trấn Man tức lộ Long Hưng đời Trần, theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. gồm một phần đất của tỉnh Thái Bình và Nam Định ngày nay.

3. Toàn Thư, Sđd, tập 2 trang 244.

4. Kiến Xương : là vùng đất các huyện Vũ Thư, Kiến Xương tỉnh Thái Bình ngày nay.

5. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 244-245.

6. Bến Bổng : theo chú thích Toàn Thư, có lẽ nằm trên thượng lưu sông Chu.

7. Mường Thôi : theo chú thích Toàn Thư, có lẽ là Man Xôi, phía tây bắc Thanh Hoá, giáp Lào.

8. Quan Du : sau đổi là châu Quan Hoá, nay thuộc huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá.


Năm Tân Sửu [1421]


Các cuộc hành quân tại Thanh Hoá năm trước không dẹp được Bình định vương Lê Lợi, Lý Bân sai Ðô chỉ huy Sư Hữu truy kích Phan Liêu tại Nghệ An ; tuy có thắng lợi, nhưng vẫn chưa bắt được Liêu :


Ngày 6 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 19 [7/2/1421]

Tháng này quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô chỉ huy Sư Hữu truy kích bọn giặc Phan Liêu, Cầm Trách. Khi đến Ngọc Ma (1) thì Liêu đến Lão Qua xin viện binh ; riêng Trách dùng voi xung kích đánh trả tại rừng Nông Ba. Bọn Chỉ huy Trương Minh, Thiên Hộ Trương Bản xông vào trận giặc bắn lính cữi voi, lại dùng hoả khí bắn vào khiến voi phải chạy lùi ; giặc tan rã. Chém hơn 100 tên, bắt sống hơn 30 tên. Em Trách là Kết mang 200 quân dưới quyền đầu hàng. (Minh Thực Lục v 14, tr. 2248-2249; Thái Tông q. 233, tr. 1b-2a)

Trước tình hình chiến tranh kéo dài, quân lính đông, lương thực tốn kém ; Lý Bân đề ra chính sách đồn điền, sử dụng phần nhiều lính bản xứ làm công việc này. Lời tâu được vua nhà Minh chấp thuận :


Ngày 29 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 19 [28/6/1421]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân tâu rằng đất nội phụ Giao chỉ xa xôi, không dễ dàng vận chuyển lương thực ; xin cho các ty, vệ, sở chia lính lập đồn điền để cung cấp. Hoạch định một phần căn cứ vào đất đai hiểm hay dễ, tình thế gấp hay hoãn để dùng quân đồn điền hoặc chinh điều nhiều hay ít. Quân lính người bản xứ tuy được liệt vào sổ binh, nhưng lúc đánh nhau còn lưỡng lự hai lòng, thường không liều chết ; nay bàn định tỷ số đồn điền phần nhiều là lính bản xứ, quan quân ít.

Trong 7 vệ gồm Giao Châu tả, hữu, trung, tiền, cùng Trấn Di, Xương Giang, Thanh Hoá ; hoạch định quan quân 1 phần đồn điền, 9 phần chinh thủ ; quân lính người bản xứ 7 phần đồn điền, 3 phần chinh điều. Hậu vệ Giao Châu, vệ Tam Giang, Thiên Hộ-sở Thị Cầu ; quan quân 2 phần đồn điền, 8 phần chinh thủ ; lính bản xứ 8 phần đồn điền, 2 phần chinh điều. Mỗi người làm đồn điền hàng năm trưng thu 35 thạch lúa.

Ba vệ Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá quan quân đồn điền 3 phần, 7 phần chinh thủ ; lính bản xứ 6 phần đồn điền, 4 phần bị chinh điều. 3 Thiên Hộ sở tại Diễn Châu, Nam Tĩnh, Thanh An ; tất cả quan quân không phụ trách đồn điền, quân bản xứ 3 phần đồn điền, 7 phần chinh điều. Quân đồn điền hằng năm trưng thu 18 thạch lúa mỗi người. Lời tâu được chấp nhận. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2275-2276; Thái Tông q. 237, tr. 2a-2b)

Sử dụng chiến thuật du kích “ tị nhuệ thừa tệ ” [tránh quân tinh nhuệ, thừa cơ đánh quân yếu] ; gặp lúc giặc đông mạnh, Bình Định vương Lê Lợi thường cho quân ẩn náu tại biên giới Ai Lao. Nhắm phá vỡ kế sách này, nhà Minh cưỡng bức sứ giả Ai Lao sang Bắc Kinh để gây sức ép :


Ngày 11 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 19 [7/10/1421]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân tâu :

Phản tặc Lê Lợi chạy trốn sang Lão Qua, ra lệnh cho quân truy bắt. Nhưng Lão Qua sai Đầu mục Lãm Kỳ Tức Cốc xin quan quân đừng vào biên cảnh, sẽ cho quân lính đi lục soát, nếu có Lê Lợi sẽ đem đến cửa quân. Từ đó đến nay đã lâu, không thấy tung tích Lê Lợi.

Thiên tử xem tấu, nghi Lão Qua giấu giặc nên sắc dụ Bân đưa bọn Lãm Kỳ Tức Cốc đến Bắc Kinh để cật vấn. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2289-2290; q 241, tr. 1a-1b)

Ðó là lý do tại sao Ai Lao phản bội, mang quân tập kích Bình Định vương Lê Lợi, sự việc được Toàn Thư (2) chép như sau :

Mùa đông tháng 11, ngày 20, Tham tướng nhà Minh là Trần Trí đem quân các vệ Giao Châu cùng nguỵ binh, gồm hơn 10 vạn tên đánh sát đến ải Kinh Lộng (3), sách Ba Lẫm. Vua họp các tướng bàn rằng :

“ Quân giặc nhiều, quân ta ít, nhưng quân giặc mệt, quân ta nhàn. Binh pháp có nói được hay thua là ở tướng chứ không phải ở quân nhiều hay ít, nay quân giặc tuy nhiều, nhưng ta đem quân nhàn đợi đánh quân mệt mỏi, chắc chắn sẽ đánh bại chúng.”

Ðến đêm, vua chia quân đánh úp doanh trại giặc. Quân ta đánh trống reo hò xông tới, phá được 4 doanh trại giặc, chém được hơn ngàn thủ cấp. Sau Trí khinh vua ít quân, lại phá núi mở đường để tiến đánh. Vua ngầm phục kích tại đèo Ống (4) để đợi giặc. Ðến trưa, Trí quả nhiên đem quân đi theo đường núi đến. Quân phục hai bên xông ra, đánh bại giặc. Quân Trí phải rút.

Nhưng đúng lúc ấy, Ai Lao đem 3 vạn quân và 100 thớt voi thình lình tới doanh trại của vua phao tin là cùng hợp sức với vua để đánh giặc. Vua tin lời họ, không phòng bị. Đến nửa đêm, bị họ đánh úp. Vua phải đích thân đốc chiến từ giờ Tỵ đến giờ Mão, đánh tan bọn Ai Lao, chém hơn vạn thủ cấp, bắt được 4 con voi, thừa thắng truy kích liền 4 ngày đêm, đuổi đến tận sào huyệt của chúng rồi về.

Tháng 12 vua tiến quân ra đóng ở sách Thuỷ.

Tù trưởng Ai Lao là Mãn Sát đã cùng quẫn, muốn vua hoãn đánh để đợi viện binh, mới giả vờ xin hoà. Vua biết đó là mưu kế xảo quyệt, không cho. Các tướng cố xin cho hoà, nói là quân lính khó nhọc đã lâu, nên cho nghỉ ngơi một chút. Chỉ có Bình Chương Lê Thạch cho là không thể cho giặc giải hoà, liền tự mình hăng hái xông lên trước, chẳng may trúng phải chông ngầm mà chết.

Một điều thú vị xảy ra, lúc này chiếu thư vua nhà Minh thường đòi hỏi bắt cho được Lê Ngã tức Dương Cung tự xưng là Thiên thượng Hoàng đế, nổi dậy tại vùng An Bang [Quảng Ninh]. Ðể cho qua sự đòi hỏi, bọn Bân dối trá bắt một người tên là Phạm Luận, buộc phải nhận là Dương Cung, rồi tống giải về Tàu. Tri huyện Dặc Khiêm biết được dâng thư tố cáo :

Tổng binh Lý Bân và Nội quan Lý Lượng của nhà Minh bắt Phạm Luận là Sinh viên huyện Giáp Sơn, buộc Luận nhận là Dương Cung để cho qua chiếu lệnh lung bắt, bắt cả gia thuộc Luận là bọn Phạm Xá giải về Yên Kinh. Tri huyện Dặc Khiêm nhận thực không phải tên Cung. Bân không nghe, Khiêm lấy bao vàng dâng đại cáo tâu thẳng về kinh. Bân sai người chận đường bắt về. Hoàng Phúc khuyên Khiêm rằng :

Mọi người đều cho là đúng, chỉ riêng ngươi bảo không phải là làm sao ?

Khiêm nói :

Ai ra ngoài mà chẳng qua cửa ngõ (5).

Bèn cho giải cả Khiêm và Luận về Yên Kinh, giao xuống cho pháp ty xét hỏi (6).

Cuối cùng có lẽ để giữ uy tín cho triều đình, mọi việc đều ém nhẹm, Minh Thực Lục chép đã bắt được Dương Cung :


Ngày 19 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 19 [15/10/1421]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Vương Trung bắt được đầu đảng giặc Dương Cung. Trước đây Cung tiếm xưng Vương, tụ tập đám đông làm loạn, quan quân truy đánh, Cung chạy trốn không bắt được. Đến nay bắt người cậu là Đỗ Cô, sai chỉ đường truy tới huyện Giáp Sơn (7), phủ Tân An thì bắt được ; bèn cùm giải đến Bắc Kinh. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2290; Thái Tông q. 241, tr. 1b)



Chú thích

1. Châu Ngọc Ma : thời Lê thuộc Nghệ An, thời Nguyễn đổi làm phủ Trấn Ðịnh gồm các huyện Cam Môn, Cam Cát, Cam Linh.

2. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 246-247.

3. Kinh Lộng : tức ải Cổ Lộng, thuộc huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hoá.

4. Ðèo Ống : ở xã Thiết Ống, trên tả ngạn sông Mã.

5. Ý nói ai cũng hùa theo sự gian dối của Lý Bân.

6. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 246-247

7. Theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. Giáp Sơn tức huyện Kinh Môn thuộc tỉnh Hải Dương hiện nay.



Năm Nhâm Dần [1422]


Ðầu năm Nhâm Dần [1422] Phong thành hầu Lý Bân mất, người phụ tá là Vinh Dương Bá Trần Trí lên thay :


Ngày 14 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 20 [5/2/1422]

Phong thành hầu Lý Bân mất. Bân người châu Phượng Dương, cha là Tín lập quân công, quan đến Chỉ huy Thiêm sự vệ Tế Châu. Khi Tín già, Bân thay chức.

Bân là người có trí lược, khi Thiên tử bình nội nạn nhiều lần lập công, được thăng đến Hữu Quân Ðô đốc Ðồng tri Phong thành hầu. Lúc đầu trấn thủ Giang Tây, chiến dịch Giao Chỉ làm Tả Tham tướng, Khi Giao Chỉ bình, trở về nước đánh dẹp giặc Nuỵ, giữ Cam Túc có công ; sau đó trấn thủ Giao Chỉ, lo đánh dẹp bọn giặc làm loạn. Nay bị tật mất, được ban tế ; truy phong Mậu quốc công thuỵ Cương Nghị, cấp phương tiện đưa linh cữu về tống táng. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2303; Thái Tông q. 245, tr. 1a)

Trần Trí theo sách lược đã thực hiện 2 năm trước, phối hợp với Ai Lao làm một một cuộc hành quân lớn tại vùng Quan Du (1), sách Khôi (2), thuộc các huyện Quan Hoá, Thạch Thành ngày nay. Quân của Bình Định vương Lê Lợi bị thiệt hại nặng, phải rút lui về núi Chí Linh (3) :

Mùa đông, tháng 12, vua tiến quân đóng ở Quan Da [Du?]. Ai Lao lại ước hẹn với quân Minh đánh vào trước mặt và sau lưng, quân ta nhiều người chết và bị thương. Vua bèn bí mật lui về sách Khôi. Mới được 7 ngày, giặc Minh lại đem đại binh đến vây. Vua bảo các tướng sĩ :

Giặc vây ta bốn mặt, có muốn chạy cũng không có lối nào. Ðây chính là tử địa, mà binh pháp nói đánh nhanh thì sống, không đánh nhanh thì chết.

Vua nói xong chảy nước mắt. Các tướng sĩ đều xúc động, tranh nhau liều chết quyết chiến.

Bọn Lê Linh, Lê Vấn, Lê Hào, Lê Triện xông lên tước phá trận, chém được Tham tướng nhà Minh Là Phùng Quý (4) và hơn nghìn thủ cấp giặc, bắt được trăm con ngựa. Mã Kỳ và Trần Trí chỉ thoát được thân mình chạy về Ðông Quan, quân Ai Lao cũng bỏ trốn.

Vua đem quân về đóng ở núi Chí Linh. Quân lính hết lương, hơn hai tháng chỉ ăn rau củ và măng tre mà thôi. Vua giết 4 con voi và cả ngựa của mình cưỡi để nuôi quân sĩ ; song thỉnh thoảng vẫn có kẻ bỏ trốn. Vua bèn cấm giữ nghiêm ngặt, bắt được kẻ nào bỏ trốn thì chém, để rao cho mọi người biết. Quân lính lại nghiêm túc như trước. (5)

Phối hợp quân hai nước, nhắm bắt cho được Bình Định vương Lê Lợi nhưng không thành công, vua Thái Tông nhà Minh quở trách Vinh dương bá Trần Trí nặng nề :


Ngày 8 tháng 12 năm Vĩnh lạc thứ 20 [21/12/1422]

Bọn giặc Lê Lợi làm loạn tại Giao Chỉ đã lâu, nhưng chưa bắt được. Giáng sắc trách nặng nề bọn Vinh dương bá Trần Trí. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2359; Thái Tông q. 254a, tr. 1a)

Lúc này quân ta đã mệt mỏi ; nên thể theo lời khuyên của các tướng, Bình Định vương tạm thời hoà với quân Minh :

Bấy giờ, do trải nhiều phen hoạn nạn, quân lính đã mỏi mệt, muốn được nghỉ ngơi, đều khuyên vua giảng hòa với giặc. Vua bất đắc dĩ phải vờ hoà hiếu với bọn tướng giặc Sơn Thọ, Mã Kỳ, Trần Trí, để yên lòng quân. Sai bầy tôi thân thích là bọn Lê Vận, Lê Trăn đi giảng hoà.(6)


Chú thích

1. Quan Du : sau đổi là châu Quan Hoá, nay thuộc huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

2. Sách Khôi : tức Khôi huyện, thuộc trấn Thiên Quan, ở giữa hai huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình và huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá.

3. Chí Linh : tức núi Pù Rinh, thuộc xã Giao An, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá.

4. Theo Minh Thực Lục, xin xem phần trên, Phùng Quý chết vào năm Canh Tý [1420]

5. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 247-248.

6. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 248.



Năm Quý Mão [1423]


Trước khi tạm thời giảng hoà, lại có cuộc giao tranh tại vùng giáp giới Thanh Hoá, Ninh Bình ngày nay :


Ngày 21 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 21 [3/3/1423]

Tham tướng Giao Chỉ Vinh dương bá Trần Trí đánh phản tặc Lê Lợi tại huyện Đông Lai, châu Ninh Hoá (1). Lợi thua bỏ trốn. (Minh Thực Lục v. 14 tr. 2366; Thái Tông q. 255, tr. 1b)

Sau đó vào tháng 4, Bình Ðịnh Vương cho rút quân về Lam Sơn (2). Qua giai đoạn đầu cuộc hoà hoãn, quan lại nhà Minh thường mang đồ vật đến cho, để mua chuộc ; nhưng sau đó thấy Bình Định vương bề ngoài thân thiện, nhưng bề trong có mưu kế đánh úp ; bèn bắt giữ sứ giả và tuyệt giao :

Mùa hạ, tháng 4, ngày 14, vua lại đem quân về Lam Sơn.

Bọn Tham tướng Trần Trí, Nội quan Sơn Thọ nhà Minh đưa biếu vua nhiều trâu ngựa, cá muối cùng thóc giống và nông cụ để dụ dỗ. Vua cũng sai bọn [Lê] Trăn đưa tặng vàng bạc để đáp lễ, nhưng vẫn bí mật phòng bị. Bọn Trí biết ý của vua bề ngài giả cách thân thiện, nhưng bên trong thì ngầm mưu đánh úp. Liền bắt giữ bọn Trăn không cho về. Vua nổi giận cắt đứt giảng hoà. Các tướng sĩ cũng sôi sục căm thù, đều xin liều chết quyết chiến (3)


Chú thích

1. Ð.N.V.N.Q.C.Ð., Sđd. trang 140, cho biết đời Minh châu Ninh Hoá gồm 3 huyện : Xích Thố, Xa Lai, và Khôi. Xích Thố khoảng huyện Gia Vĩễn, Ninh Bình ; Xa Lai (hoặc Ðông Lai) khoảng huyện Lạc Sơn, Hoà Bình ; huyện Khôi tức huyện Nho Quan, Ninh Bình ngày nay.

2. Lam Sơn : nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

3. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 248.



Năm Giáp Thìn [1424]


Trong giai đoạn này, ảnh hưởng của Bình Định vương Lê Lợi toả rộng thu hút lòng người, nên các cuộc nổi dậy khác hầu như vắng bóng ; tuy vậy tại tỉnh Bắc Giang vẫn còn nhóm Ðinh sĩ Nghiêm nổi lên, rồi bị dập tắt :


Ngày 1 tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [1/3/1424]

Giặc Giao Chỉ Ðinh Sĩ Nghiêm tụ tập đám đông cướp phá huyện Lục Na (1). Tham tướng Vinh Dương bá Trần Trí sai hữu vệ Giao Châu Chỉ huy Thiêm sự Trần Lân mang binh đánh bắt. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2429; Thái Tông q. 268, tr. 1a)

Riêng các cuộc giao tranh giửa Bình Định vương Lê Lợi và quân Minh lại bộc phát. Lúc này vua Thái Tông nhà Minh mới mất, Vinh xương bá Trần Trí báo động vua con là Nhân Tông như sau :


Ngày 1 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [23/9/1424]

Giao Chỉ Tham tướng Vinh xương bá Trần Trí tâu rằng :

Giặc Lê Lợi chạy trốn sang Lão Qua ; bị Lão Qua đuổi bèn quay về huyện Côi, châu Ninh Hoá (2). Quan quân tiến đánh, viên Đầu mục nguỵ là bọn Phạm Ngưỡng đem trai, gái 1600 người ra hàng. Lê Lợi tuy nói rằng sẽ đưa hơn 480 nam nữ ra hàng, nhưng rồi dừng lại tại huyện Nga Lạc, phủ Thanh Hoá ; lại nghe rằng vẫn không ngừng tiếp tục tạo khí giới ; dối trá như vậy, đáng mang quân đánh dẹp.

Thiên tử sai mang sắc dụ bọn Trí rằng :

Ngươi hãy ước tính mưu kế giặc, trù hoạch đúng nên tiến hay chưa ? Nhưng ta nghe rằng nguyên nhân gây ra bọn giặc này, do quan ty nhũng nhiễu áp bức, bọn chúng cùng quẫn bất đắc dĩ gây ra như vậy. Nay dùng phép đại xá để thiên hạ cùng đổi mới, đối với Giao Chỉ lại càng tăng thêm sự khoan tuất. Nếu trong muôn một, lương tâm bọn giặc này chưa mất hết, chúng có thể suy nghĩ sửa đổi. Nay nếu quan quân chưa tiến, thì mang thư đến chiêu dụ, sẽ không hỏi đến lỗi xưa, lệnh cho về đất cũ an cư lạc nghiệp. Nếu bọn này chấp mê không chịu ra, vẫn tiếp tục hành động như trước, thì hãy tâu đầy đủ sự thực, để có cách khu xử khác. Nếu quan quân đã tiến, thế không thể dừng lại, phải hết sức cẩn thận. Giặc âm mưu quỷ quyệt, dựa vào chổ hiểm đặt phục binh, hãy sử dụng thám thính đằng xa để không lầm vào kế giặc. Lúc hành quân, phải ước thúc quân lính, đừng nhiễu hại nhân dân.” (Minh Thực lục v. 15,tr. 0040 ; Nhân Tông q.2 thượng, tr. 2b)

Trong thời gian tạm hoà quân ta có dịp chuẩn bị, vào tháng 9 thình lình đánh úp đồn Ða Căng (3), quân Minh bị thiệt hại nặng :

Mùa thu, tháng 9, ngày 20, vua chỉ huy quân và voi đánh úp đồn Ða Căng, phá được đồn này. Tham chính nhà Minh là Lương Nhữ Hốt chỉ chạy thoát được thân mình, ta thu hết khí giới, đốt phá đồn giặc. (4)

Tiếp tục, quân ta tiến thẳng sang Nghệ An, gặp quân Minh tại Quỳ Châu, lại chiến thắng trong một cuộc phục kích lớn :

Bình Định vương, sau khi đã hạ được đồn Đa Căng, cho ghi vào sổ lấy những trai tráng, rồi sắp xếp hàng ngũ bộ thuộc một cách nghiêm chỉnh, thẳng rảo đến Nghệ An. Dọc đường, khi qua Bồ Liệp (5) thuộc Quỳ châu, gặp bọn chỉ huy Sư Hựu, tham tướng Trần Trí và Phương Chính nhà Minh đón đường chẹn cả mặt trước lẫn mặt sau. Chiều đến, Vương đặt quân mai phục ở khoảng rừng rú, nhử địch đến, đánh bại được giặc : chém Ðô ty Minh, Trần Trung, và hơn hai nghìn thủ cấp quân địch, tước được hơn một trăm ngựa. Quân Minh phải lùi chạy. (6)

Sử nhà Minh cũng xác nhận Ðô Chỉ huy Trần Trung tử trận, tuy nhiên ghi sự việc xẩy ra tại Thanh Hoá và trước trận Ða Căng 5 ngày (đúng ra trận Bồ Liệp phải xẩy ra sau trận Ða Căng, nhưng dưới đây Minh thực Lục ghi vào ngày 15 tháng 9 Âm Lịch, còn trận Ða Căng sử nước ta ghi vào ngày 20 tháng 9) . Ðiều này có thể hiểu được, vì vị trí Bồ Liệp thuộc xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu ngày nay, nằm sát biên giới Thanh Hoá. Còn nhật kỳ thì theo sự khảo cứu của Hoàng Xuân Hãn (7), ngày ghi trong Thề Lũng Nhai của Lê Lợi cũng không đúng với lịch Ðại Thống nhà Minh, tác giả cho rằng nghĩa binh lúc bấy giờ sống trong núi rừng không có lịch hiện hành ; như vậy ngày tháng sai lầm mà sử ta ghi về trận Ða Căng cũng rơi vào tình trạng tương tự. Sau đây Minh Thực Lục ghi về cái chết của Trần Trung như sau :

Ngày 15 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [7/10/1424]

Ngày hôm nay Đô chỉ huy Đồng tri Trần Trung tại Giao Chỉ, đánh giặc bị thiệt mạng.

Trung người đất Lâm Hoài, xuất thân từ Phó Thiên hộ vệ Khoan Hà ; thời Tĩnh Nạn có công được thăng chức Chỉ huy Đồng tri vệ Tuy Đức. Rồi có tội bị đày làm lính tại Quảng Tây, bèn theo quan Tổng binh đánh Giao Chỉ. Tại chợ Cá Chiêu, khiêng thuyền nhỏ vào sông, đánh úp thuỷ trại của Lê Quý Ly, lại theo Hoành Hải Tướng quân đánh thành Đa Bang, liều thân leo lên thành, nên được phục chức Chỉ huy Đồng tri Tả vệ Giao Châu. Trung cùng quan quân lập thành tích trong các trận tại ải Hàm Tử, các cửa biển, những trận thuỷ chiến tại An Mô, Hải Dương, chém và bắt được rất nhiều. Lại theo đại quân lập công đánh bại giặc tại Kỳ La, cửa biển Hà Hoa, núi Côn Truyền ; nơi mà bọn cha con giặc họ Lê, Trần Quý Khoách, Nguyễn Suý bị bắt, nên được thăng chức Chỉ huy Đồng tri Giao Chỉ. Tiếp tục đánh tại châu Ðông Hồ bắt được Đai tướng quân nguỵ Ngô Trung. Đến nay bọn giặc Lê Lợi đánh phá Thanh Hoá, Trung giao chiến bị trúng đạn tử trận. Được tin triều đình sai bộ Lễ chiếu theo điển lệ cấp tuất rất hậu. (Minh Thực Lục v. 15, tr. 66-67; Nhân Tông q. 2 hạ, tr. 2b-3a)

Mấy ngày sau quân ta giao tranh với quân Minh tại trang Trịnh Sơn (8) thuộc châu Trà Lân, trong trận này viên Chỉ huy vệ Xương Giang chết :


Ngày mồng 1 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [23/9/1424]

Ngày hôm nay Đô Chỉ huy Sứ ty Đô đốc Đồng tri Phương Chính tại Giao Chỉ mang binh đánh giặc, giao tranh với Lê Lợi tại châu Trà Long, phủ Nghệ An ; viên Chỉ huy vệ Xương Giang Ngũ Vân chết. Vân người Định Viễn, Phượng Dương ; trước đây giữ chức Chỉ huy Đồng tri vệ Kinh Châu. Tòng chinh Giao Chỉ có công trong việc đánh phá Pha Luỹ, Ải Lưu, thành Đa Bang ; chiếm hai đô Đông, Tây [Đông Đô, Tây Đô]. Giao Chỉ bình ; điều đến Xương Giang, lập nhiều chiến công ; lại chiêu dụ kẻ đầu hàng được ân thưởng mấy lần. Đánh nhau với Lê Lợi, thâm nhập bị hãm trận chết. Nghe tin, sai bộ Lễ phúng điếu. (Minh Thực Lục, tr. 0040-0041 ; Nhân Tông q. 2 thượng, tr. 2b-3a)

Nhắm xoa dịu tình hình, vua Nhân Tông nghe lời Sơn Thọ cho mang sắc dụ Bình Định vương Lê Lợi :


Ngày 13 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [5/10/1424]

Sai trấn thủ Giao Chỉ Trung quan Sơn Thọ mang sắc dụ Đầu mục Giao Chỉ Lê Lợi. Sắc rằng :

“ Ngươi vốn là kẻ lương thiện, từ lâu có lòng thành quy phụ. Nhưng quan ty cai trị không đúng cách, sinh ra nghi sợ ; rồi ẩn trốn nơi núi rừng, không toại chí nguyện. Nay sau khi đại xá, bỏ hết sai lầm quá khứ, hàm chứa sự canh tân. Đặc cách sai người mang sắc dụ ban cho ngươi chức Tri phủ Thanh Hoá, cai trị dân một quận. Hãy đến nhận chức ngay, để đáp lại sự cứu xét đến lòng thành và bao dung đãi người của Trẫm.”

Sở dĩ có sắc dụ này, vì Thọ tâu trước mặt Thiên tử rằng Lê Lợi và y hợp ý nhau, nay đến dụ sẽ trở về. Thiên tử nói :

Bọn giặc gian trá, ngươi không biết được ; nếu bị lừa, đây là dịp giúp cho thế giặc ngày một lớn, khó mà chế ngự.

Thọ khấu đầu tâu rằng :

Nếu như thần dụ mà nó không quay về, thì tội thần đáng vạn lần chết.

Bèn giáng sắc này. (Minh Thực Lục v. 15, tr. 0057-058 ; Nhân Tông q. 2 Trung, tr.5a-6b)

Tiếp đến bọn Vinh dương bá Trần Trí báo cáo tình hình chiến sự tại nước ta, nhưng vua Nhân Tông muốn chờ kết quả chuyến đi của Sơn Thọ rồi mới có quyết định mới :


Ngày 4 tháng 11 năm Vĩnh lạc thứ 22 [24/11/1424]

Tham tướng Bảo định hầu Mãnh Anh, Vinh dương bá Trần Trí tại Giao Chỉ tâu sự việc về Lê Lợi. Ban sắc báo rằng :

Đã ban sắc xá tội cho Lê Lợi, mệnh cho làm Tri phủ phủ Thanh Hoá, lệnh Nội quan Sơn Thọ đến nơi hiểu dụ. Ý ta muốn đợi Sơn Thọ đến đó, bọn ngươi xem tình hình tại chỗ như thế nào, cùng Sơn Thọ bàn bạc chu tất rồi tâu về.” (Minh Thực Lục v. 15, tr. 134 ; Nhân Tông q. 4 hạ, tr.3b)


Chú thích

1. Lục Na : nay thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

2. Ninh Hoá : theo Ð.N.V.N.Q.C.Ð., Sđd. trang 140. cho biết đời Minh châu Ninh Hoá gồm 3 huyện : Xích Thố, Xa Lai, và Khôi. Xích Thố khoảng huyện Gia Vĩễn, Ninh Bình ; Xa Lai (hoặc Ðông Lai) khoảng huyện Lạc Sơn, Hoà Bình ; huyện Khôi tức huyện Nho Quan, Ninh Bình ngày nay.

3. Ða Căng : theo Toàn Thư, có lẽ là Bất Canh, thuộc xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá.

4. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 250.

5. Bồ Liệp : tên núi cũng gọi là Bồ Ðằng, thuộc xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An ngày nay.

6. Cương Mục, Sđd, trang 362.

7. La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 1, trang 936.

8. Trang Trịnh Sơn : là Kẻ Trịnh, nay thuộc xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông ; cách thành Trà Lân hơn 10 km.



Năm Ất Tỵ [1425]


Sự kiện quan trọng trong giai đoạn này là việc viên Tri phủ châu Trà Lân (1) Cầm Bành đầu hàng ; về việc này sử Trung quốc chép khác sử nước ta, ghi rằng y đánh thua bị tử trận. Sử quan nhà Nguyễn nghiên cứu kỹ, viết Cẩn án như sau :

Lời cẩn án Theo Minh sử, khi Vương đánh phá châu Trà Long, thổ tri phủ là Cầm Bành bị chết. Sử cũ chép Cầm Bành đầu hàng. Nay xét Lam sơn thực lục chép Cầm Bành tự biết mưu chước đã cùng, quân cứu viện lại không có, nên Bành mở cửa đầu hàng. Thông sử của Lê Quý Đôn chép Bành thấy viện binh không đến, bèn đầu hàng. Bài Chí Linh sơn phú của Nguyễn Trãi cũng viết : Cầm Bành sụp lạy mà dâng đất. Như vậy, Minh sử chép như thế là không đúng sự thực. Nay xin cải chính. (2)

Nay xin dựa theo chánh sử hai nước, cố gắng tìm hiểu sự thực. Toàn Thư chép như sau :

Mùa đông, tháng 11 [Giáp Thìn 1424], vua sai người chiêu dụ Cầm Bành. Bành cự tuyệt không theo, mình hắn với 1000 quân dựng rào luỹ trên đỉnh núi để đón quân cứu viện. Vua đem quân tới bao vây.

Tháng 12, Sơn Thọ nhà Minh sai Nguyễn Sĩ đưa trả Lê Trăn để cầu hoà. (3)

Tuy không nói ra, nhưng người đọc sử hiểu rằng việc trả Lê Trăn là món quà ngoại giao, để Sơn Thọ trao sắc phong của vua Nhân Tông cử Lê Lợi làm Tri phủ Thanh Hoá, mà y đã nhận từ tay vua nhà Minh vào tháng 9. Tương kế tựu kế, Bình Định vương Lê Lợi nói thác rằng bị Cầm Bành ngăn đường nên không trở về Thanh Hoá nhậm chức được, xin nhờ can thiệp :

Bọn Phương Chính, Sơn Thọ đến Nghệ An, muốn cứu Cầm Bành nhưng không dám tiến quân, bèn sai người xin vua giải vây cho Cầm Bành.

Bấy giờ, Cầm Bành cố thủ, vây đã hơn một tháng mà chưa lấy được, lại nghe tin quân cứu viện tới. Vua gọi các tướng lên bảo rằng :

  Cầm Bành đang nguy khốn, bọn Chính đáng lẽ phải cấp tốc cứu viện, nay lại dùng dằng hẳn là có ý sợ. Chi bằng ta giả cách cho hoà để xem tình thế ra sao, tin đi tin lại mất hàng tuần hàng tháng, thì Cầm Bành lúc ấy chắc đã bị bắt rồi.

Vua bèn viết thư để trên bè cho thuận dòng tôi xuống. Trong thư vua nói thác là vẫn muốn theo lời thỉnh cầu của họ, trở về Thanh Hoá. Nhưng lại bị Cầm Bành chặn đường, nếu có thương thì xin gửi cho một người tạm đến hoà giải để thông đường về.

Bọn Chính nhận được thư, sai Trần Ðức Nhị chạy đến bảo Cầm Bành hoà giải, Cầm Bành biết là viện binh không đến, mở cửa thành ra hàng.(4)

Thực sự Cầm Bành chưa đầu hàng ngay ; thời gian dằng co kéo dài có đến 7, 8 tháng trời, là dịp tốt để nghĩa quân bồi dưỡng và củng cố thực lực. Sau mấy tháng, vua Nhân Tông nhà Minh hiểu ra điều đó, nên đã giáng sắc quở trách bọn Trần Trí như sau :


Ngày 19 tháng giêng năm Hồng Hy thứ nhất [7/2/1425]

Giáng sắc khiển trách nặng nề Tham tướng Giao Chỉ Vinh xương bá Trần Trí, Đô đốc Phương Chính tội đánh chậm dưỡng giặc ; lệnh sửa đổi sai lầm, tự phấn đấu. Lại mệnh cùm giải Đô chỉ huy Sư Hữu, Trương Hùng về kinh đô giam cấm ; thể theo lời Giám sát Ngự sử, hặc tội bọn này tham bạo làm sai luật rất nhiều. (Minh Thực Lục v. 15, tr. 221 ; Nhân Tông q. 6 hạ, tr.7a)

Tiếp theo, khi được tin Trà Lân vẫn tiếp tục bị vây, vào thời điểm này vua Tuyên Tông mới lên ngôi kế vị, ra lệnh cấp cứu :


Ngày 16 tháng 7 nhuần năm Hồng Hy thứ nhất [29/8/1425]

Tuần án, Giám sát, Ngự sử Giao Chỉ tâu đầu đảng giặc Lê Lợi tại phủ Thanh Hoá tụ dân làm loạn vây châu Trà Lung [Trà Lân]. Viên Thổ quan coi châu Tri phủ Cầm Bành chống giữ trong vòng 7 tháng, lương gần hết, quân gặp nguy khốn, xin mang binh cứu viện.

Thiên tử xem tờ tâu bùi ngùi sắc dụ Vinh xương bá Trần Trí cùng ba ty (5) tại Giao Chỉ rằng :

Triều đình mệnh các ngươi trấn thủ Giao Chỉ là để yên ổn một phương ; nay được biết bọn đầu đảng Lê Lợi cướp phá châu huyện, ngăn cắt đường sá. Các ngươi mới đây tâu rằng đã chiêu dụ Lê Lợi xin đợi mùa thu mát đến Thanh Hoá nhậm chức. Nay đã mùa thu rồi, thực sự Lợi đã đến nhậm chức chưa ? Trẫm ước tính tên giặc này nguỵ trá, không có lòng quy thuận ; chỉ dùng lời lẽ hoãn binh để bọn chúng được thung dung tụ tập, tương lai tất gây hậu hoạn, các ngươi không suy nghĩ đến hay sao ? Về việc Thổ quan Tri phủ Cầm Bành tại châu Trà Lung bị Lợi đánh vây 7 tháng nay rồi, lương thảo sắp hết, quân chết đến một phần ba, Bành vẫn kiên thủ cự địch, Giao Chỉ có được người như vậy cũng không dễ kiếm ! Các ngươi từng chứng kiến lòng trung thành của con người này, sao không điều binh cứu viện ?

Khi sắc dụ đến nơi, như thấy Lê Lợi không có bụng quy thuận hãy tìm cánh đánh bắt. Gấp phát binh tiếp viện Cầm Bành, vỗ về hậu hĩ, để bồi dưỡng lòng kiên cường trung thuận. Các ngươi đều là đại thần của triều đình, cần đồng tâm hiệp lực làm tròn uỷ nhiệm, đừng lo việc ban thưởng phong tước không được công bằng ! (Minh Thực Lục v. 16, tr.148-149; Tuyên Tông q. 6, tr. 1b-2a)

Áp dụng chiến thuật “ điệu hổ ly sơn ”, nghĩa quân bao vây và tấn công Trà Lân trong thời gian dài ; quân Minh như cọp trong thành Nghệ An, buộc phải đi tiếp cứu, hoặc tìm cách chiếm lại sau khi thành mất. Nhìn trên bản đồ, con đường tiếp cứu của quân Minh ắt phải đi dọc theo sông Lam ; hoặc muốn tránh né thì đi ngược dòng sông Phố, theo ngả Hương Sơn, Hà Tĩnh ; rồi băng qua các huyện Thanh Chương, đến huyện Con Cuông tức Trà Lân. Lịch sử ghi nhận rằng quân Minh đã đi qua những chiến trường do vua Lê Lợi chọn lựa, chúng như con cọp ra khỏi rừng, nên bị thảm bại nhiều lần trên các tuyến đường này.

Sử nước ta, Toàn Thư [trang 252-253], chép về chiến thắng lớn tại Khả Lưu (6) và Bồ Ải (7) như sau :

Vừa có tin báo quân Minh đã sắp đặt voi ngựa, thuyền bè, tiến quân cả hai đường thuỷ và bộ… Ðộ ba bốn hôm, quân Minh quả nhiên đến quán Lậu và cửa Khả Lưu, bày doanh trại ở hạ lưu. Vua ở thượng lưu, ban ngày dựng cờ đánh trống, ban đêm thì đốt lửa sáng trưng. Nhưng ngầm sai binh tượng vượt sông, phục sẵn ở chổ hiểm yếu. Trời gần sáng, giặc bèn đem quân đến đánh dinh vua. Vua giả vờ rút lui, dẫn giặc tói chỗ quân mai phục. Giặc không để ý, đem quân tiến vào sâu, quân mai phục 4 mặt nổi dậy, xông ra đánh phá. Quân giặc bị chém đầu và chết đuối tới hàng vạn tên.

Hôm sau dựa vào thế núi, đắp hào luỹ để ở không ra đánh nữa.

…Ngày hôm sau vua cho quân tinh nhuệ ra khiêu chiến. Giặc đem quân ra ngoài luỹ để đánh.Vua phục sẵn ở Bồ Ải, giữa nơi hiểm yếu. Giặc lại không ngờ tới, đem hết quân ra đánh. Vua bèn tung phục binh xông vào trận giặc… phá quân giặc, chém đầu giặc không kể xiết. Thuyền giặc trôi ngổn ngang, xác chết đuối nghẹn tắc khúc sông…

Để tránh thiên kiến, xin tham khảo thêm Minh Thực Lục. Trong một chiếu dụ trách phạt bọn Trần Trí, Phương Chính, Sơn Thọ về việc thất bại tai Trà Lân, vua Tuyên Đức nhà Minh đã có lời lẽ nghiêm khắc như sau :


Ngày 5 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ nhất [12/4/1426]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Vinh xương bá Trần Trí, Đô đốc Phương Chính đánh dẹp bọn giặc Lê Lợi ; tiến quân đến châu Trà Long, bị thua. Nguyên nhân Chính dõng, Trí khiếp nhược, vốn không hoà thuận với nhau ; Nội quan Sơn Thọ lại chủ trương chiêu dụ nên đóng binh một chỗ không cứu, đến nỗi bị bại. Thượng thư Trần Hiệp tâu cho biết ; Thiên tử nghiêm thiết trách Trí và Chính rằng :

Giặc Lê Lợi vốn chỉ là tên nhãi con, nếu sớm tận tâm đánh bắt, thì dễ như nhặt một cọng lá ; rồi các ngươi ngồi yên không lo tính, dưỡng giặc nên trở thành mối hoạn. Nay nghe tin mang binh tới ải Khả Lưu và châu Trà Lung [Lân], cả hai nơi đều nhục vì tổn thất. Do bọn ngươi ngày thường dựa vào ý riêng tranh hơn thua, không ai chịu nhường ; lúc đụng việc thì kẻ dõng, tiến quân một mình nhưng vô mưu ; người khiếp nhược thì sợ co lại không cứu ; như vậy thì làm sao thành công được ? Luận tội há có thể tha được ư ! Nay tạm khoan dung, các ngươi ngày đêm hãy đồng tâm hiệp lực, luyện tập sĩ tốt tinh nhuệ, lo diệt giặc này để chuộc lỗi trước.”….. (Minh Thực Lục q. 15, t. 0395-396)

Trong thời gian này Cầm Bành đầu hàng (sử nước ta không ghi rõ ngày tháng), nhưng sau đó mưu phản nên bị Bình Định Vương giết chết. Có lẽ mong tiếp tục thực hiện kế sách “điệu hổ ly sơn”, nên Bình Định vương không công khai việc Cầm Bành đầu hàng, do đó khi được tin y chết, nhà Minh cho rằng Bành đã chết trận. Thành quả chiến thắng nêu trên, khiến quân Minh co cụm lại trong các thành lớn như Nghệ An, Diễn Châu ; dân chúng nơi thôn quê được giải phóng, đều hân hoan ủng hộ nghĩa quân :

Vương kéo quân đến Đa Lôi thuộc huyện Thổ Du [huyện Thanh Chương, Nghệ An]. Trẻ già đua nhau đem rượu và trâu bò đến đón tiếp khao quân. Họ nói :  “ Không ngờ ngày nay lại được trông thấy oai nghi cố quốc ”. Cầm Quý, tri phủ Ngọc Ma, đem quân và voi đến quy thuận, được Vương phong làm thái uý. (8)

Ðược dân ủng hộ, nghĩa quân lớn mạnh mau như cậu bé Phù Ðổng, vào tháng 5 Ðinh Lễ đánh bại quân Minh tại Diễn Châu :

Vương sai Đinh Lễ đi tuần Diễn Châu. Khi kéo quân đến gần thành, Lễ đặt quân mai phục. Bấy giờ đô ty Minh, Trương Hùng đem ba trăm thuyền lương thực từ Đông Quan đến. Trong thành Diễn Châu kéo ra đón lương thực : gặp phục binh nổi dậy, chúng đều thua chạy. Đinh Lễ cướp được thuyền lương, rồi đuổi Hùng đến tận Tây Đô. (8)

Tháng 7, Bình Định vương sai Tư đồ Trần Hãn, và Thượng tướng Lê Nỗ đi tuần các xứ Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình ngày nay, đều đánh dẹp được cả : 

Vương liệu trước rằng Tân Bình, Thuận Hoá bị đứt liên lạc với Nghệ An và Đông Đô đã từ lâu, bèn dụ bảo các tướng : “ Người giỏi chiến trận thường bỏ chỗ kiên cố, đánh chỗ sơ hở, tránh chỗ vững chắc, đánh vào chỗ trống rỗng ; như thế thì chỉ dùng sức một phần mà thành công gấp bội ”. Vương bèn sai tư đồ Trần Hãn và thượng tướng Lê Nỗ đem hơn nghìn quân đi đánh giặc và vỗ về nhân dân. Khi đến Bố Chính, gặp tướng Minh, Nhâm [Nhậm] Năng, bọn Hãn giữ chỗ hiểm yếu, đặt quân phục, rồi tìm kế nhử địch. Tên Năng lùa hết quân tiến lên. Phục binh nổi dậy, đánh khép lại : quân Minh thua vỡ tan tành, bị chém và bị bắt rất nhiều. (9)

Thất bại trong việc đánh dẹp Bình Định vương Lê Lợi, vua Tuyên Tông cùng Vinh dương bá Trần Trí tìm cách chiêu dụ những đám nổi dậy còn lại, bằng cách hứa cấp cho chức tước, nông cụ, hứa miễn thuế 5 năm :


Ngày 29 tháng 8 năm Hồng Hy thứ nhất [10/10/1425]

Tham chính Giao Chỉ Vinh dương bá Trần Trí tâu rằng :

Bọn giặc làm phản Lộ Văn Luật, Phan Liêu, Trần Văn, Nguyễn Hạnh, Nguyễn Quang Liệt, Hồ Cương, Nguyễn Tử Dực, Nguyễn Nhữ Ngôn, Trần Giang, Trần T hanh, Trần Nguyên Trung, Hồ Tướng, cùng bọn quân dân đều nói xin sửa sai, nguyện đổi mới ; vậy xin ban sắc phủ dụ.”

Thiên tử nhân lời tâu, bảo các quan hầu cận rằng bọn Man Di làm phản rồi phục tòng, từ xưa đã có như vậy, không phải là điều quái lạ. Nếu dùng binh đến cùng không phải là thịnh đức của đế vương, chi bằng nhân sự trình bày kêu xin mà tha, để giúp cho quan quân bớt mệt mỏi. Bèn ban sắc cho bọn Luật như sau :

“ Các ngươi vốn là dân lương thiện, nhưng do quan ty cai trị không đúng cách, nên trốn vào núi rừng, tập hợp dân chúng chống lại mệnh triều đình. Tâm lòng vốn bất đắc dĩ, mà phải xa cách cha, mẹ, vợ, con, anh, em ; không được sống yên ổn ; bệnh tật sống chết không có người lo. Thời gian đã lâu, sự đau khổ thực đáng thương ! ”

“ Nay ta ngự trị tước vị lớn, coi sóc vạn phương, trong ngoài bốn biển đều là con đỏ, tội không kể lớn nhỏ đều xá trừ. Nay quan Tổng binh tâu bọn ngươi có lòng cải hối, thực đáng khen. Đặc cách sai người mang sắc đến dụ các ngươi rằng nếu như thành tâm chuyển biến sang điều thiện, thì hãy trở về đất cũ. Trường hợp trước kia làm quan, thì đến quan Tổng binh tự trình bày tên tuổi, để tâu lên, sẽ trao chức cũ nhiệm dụng. Nếu là dân thì được cấp hạt giống, nông cụ miễn thuế 5 năm. Sự sai lầm cũ giống như băng tuyết mùa đông, xuân đến sẽ tan đi, không còn tra vấn. Lời nói này của Trẫm cảm thông với trời cao, các ngươi chớ có hoài nghi, chần chừ. Nếu lỡ mất cơ hội này, hối cũng không kịp.”

Thiên tử còn ban sắc cho bọn Trí rằng :

“ Nếu chúng trở về, cần khéo vỗ về cai trị.” (Minh Thực Lục v. 16, tr. 220-222; Tuyên Tông quyển 8, tr. 9b-10b)


Chú Thích

1. Châu Trà Lân : hay Trà Long là đất huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An ngày nay.

2. Cương Mục, Sđd, trang 363.

3. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 251.

4. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 251-252.

5. Tam ty : tức 3 cơ quan đầu não trông coi Giao Chỉ gồm Ðô ty, Bố chánh ty, Án sát ty.

6. Khả Lưu : là tên một cửa ải xưa, ở phía bắc sông Lam, thuộc xã Vinh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.

7. Bồ Ải : là một địa điểm ở phía trên ải Khả Lưu không xa.

8. Cương Mục, Sđd, trang 364.

9. Cương Mục, Sđd, trang 364.



Năm Bính Ngọ [1426]


Theo lời tâu của Thượng thư Trần Hiệp, người thay thế Hoàng Phúc cai quản hai ty Bố chánh, Án sát Giao Chỉ lúc bấy giờ, thì việc chiêu dụ Bình Định vương Lê Lợi và ngay cả các nhóm nổi dậy khác như Phan Liêu, Lộ Văn Luật đều không thành ; vua Tuyên Tông đốc thúc bọn Trần Trí, Phương Chính tiến binh đánh dẹp :

Ngày 26 tháng 11 năm Hồng hy thứ nhất [4/1/1426]

Tổng cai quản ty Bố chánh, Án sát Giao Chỉ Thượng thư Trần Hiệp tâu rằng cầm đầu giặc Lê Lợi tuy xin hàng ; nhưng thực chất hai lòng, chiêu dụ tụ tập đảng nghich kháng cự quan binh, đánh vây châu Trà Lung [Lân], giết Tri châu Cầm Bành, ngầm liên kết với viên Thổ quan châu Ngọc Ma Cầm Quý, cùng Tù trưởng Lão Qua để gây ác. Thái giám Sơn Thọ ban sắc, xá tội cho Lợi, ban chức Tri phủ Thanh Hoá, Lợi xin đến mùa thu mát đến nhậm chức ; nay lại tâu vốn kết oán với Tham chính Lương Nhữ Hốt, nên xin bỏ chức Tri phủ để coi châu Trà Lung. Gần đây người Diễn Châu phần đông theo Lợi làm loạn ; Lợi lại sai bọn tay chân là Phan Liêu, Lộ Văn Luật đến châu Gia Hưng, Quảng Oai chiêu tập đồ đảng. Giặc một ngày một lan tràn, xin cho viện binh sớm diệt giặc này để yên nơi biên thuỳ.

Thiên tử xem tờ tâu sắc dụ Vinh xương bá Trần Trí, An bình bá Lý An, Đô đốc Phương Chính, cùng 3 ty Giao Chỉ rằng :

“ Phản tặc Lê Lợi manh tâm gây hoạ không phải chỉ mới một sớm, nếu lúc khởi đầu bắt nó dễ như nhặt một gọng cỏ. Nhưng nghe lời người ngu, chỉ lo việc chiêu phủ kéo dài đến nay đã 8 năm trời. Cuối cùng chúng không tuân mệnh, dưỡng thành cái thế độc dữ ; khiến trung thần và dân lương thiện bị hại, mối hoạ triền miên. Khi sắc tới bọn Trần Trí, Phương Chính chuyên trách tiến binh, lo hoà hợp để thành công, không hứa trì hoãn để lỡ việc. Nếu mùa xuân tới không có tin chiến thắng báo về, sẽ bị qui tội. ” (Minh Thực Lục v. 16, tr.313-314 ; Tuyên Tông q. 11, tr. 10a-10b)

Tuy sắc dụ đã gửi đi, nhưng vua Tuyên Tông cũng không tin mình đã quyết định đúng, nhà vua lưỡng lự mơ tưởng đến chính sách hoà bình từng thực hiện dưới thời Hồng Vũ đầu triều Minh :


Ngày 27 tháng 11 năm Hồng Hy thứ nhất [5/1/1426]

Thiên tử ngự tại điện Văn Hoa, triệu Dương Sĩ Kỳ, Dương Vinh đến hỏi rằng :

  Hôm qua ra sắc dụ cho bọn Vinh Xương bá [ Trần Trí ], sắc đã gửi đi chưa ?

Tâu đáp :

  Đã gửi rồi.

Thiên tử nói :

  Trẫm có một điều để trong lòng đã lâu, nay nói riêng với 2 khanh, chưa nên khinh suất tiết lộ ra ngoài. Trước kia tại Nam Kinh, nhân giải bọn giặc Giao Chỉ đến, Hoàng Khảo [vua cha] nói với ta rằng :

“ Khi Thái Tổ Hoàng đế mới bình định thiên hạ, An Nam là nước đầu tiên trong các nước bốn phương đến quy thuận. Sau này họ Lê cướp ngôi họ Trần, mang quân đánh dẹp xong, tìm con cháu nhà Trần nhưng không gặp, nên đặt quận huyện cai trị. Nay nếu còn con cháu nhà Trần, tuyển chọn đưa lên ngôi, cũng hợp với bụng của Thái Tổ, mà một phương lại được yên tĩnh.”

Trẫm thưa rằng :

“ Triều đình làm được như vậy, thật là thịnh nghiệp cho Đế Vương.”

Hoàng khảo cười và nói :

“ Chuyện này chưa nên khinh suất tiết lộ.”

Trẫm giữ trong lòng, không quên. Thường suy nghĩ rằng nếu quả họ Trần còn con cháu, tuyển lấy một người lập lên làm phiên thần, giữ chức cống 3 năm một lần, như qui chế thời Hồng Vũ, thì dân được yên ổn mà Trung Quốc cũng không mệt về binh nhung; tuy nhiên có kẻ cho rằng Trẫm bỏ cơ nghiệp của tổ tông, nhưng thực ra phục hưng nước bị diệt nối dòng bị đứt là ý của Hoàng tổ.

Kỳ và Vinh tâu đáp :

- Vào đầu năm Vĩnh Lạc thứ 3, khi mệnh tướng đánh giặc họ Lê, phàm chiếu sắc văn từ đều do bọn thần trực tiếp nhận mệnh viết, lúc bấy giờ Thái Tông Hoàng đế chí tại “ hưng diệt kế tuyệt ”; lời châu ngọc đó trong triều ngoài cõi đều nghe biết.”

Thiên tử nói :

  Lúc bấy giờ ta còn ở tuổi búi tóc trái đào (1), nhưng cũng được nghe ít nhiều như lời các khanh nói. Hai khanh hiểu ý Trẫm nhưng đừng tiết lộ, đợi hai ba năm nữa Trẫm sẽ thi hành.

Rồi ban rượu, trước khi hai người rút lui. (Minh Thực Lục v. 16, tr. 315-316 ; Tuyên Tông q. 11, tr.11b-12a)

Lúc bấy giờ vùng đất tiếp giáp với Vân Nam thuộc phía tây bắc nước ta như phủ Gia Hưng, Quy Hoá, châu Ninh Viễn, giặc Áo đỏ liên kết với các nhóm khác tiếp tục đánh phá. Vua Tuyên Tông mệnh Kiềm quốc công Mộc Thạnh cùng Vinh dương bá Trần Trí đánh dẹp :


Ngày 3 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ nhất [10/4/1426]

Mệnh quan Tổng binh Thái truyền Kiềm quốc công Mộc Thạnh đôn đốc thổ quan châu Ninh Viễn Tri châu Đèo Cát Hãn bắt giặc tại châu Ninh Viễn. Tham tướng Vinh xương bá Trần Trí chiêu hàng và bắt bọn giặc tại các phủ Tuyên Hoá, Thái Nguyên thuộc Giao Chỉ. Lúc bấy giờ Đô đốc Trần Tuấn giữ chức Đô ty Giao Chỉ tâu rằng :

“ Bọn giặc tại các phủ Tuyên Hoá, Gia Hưng, đầu đảng là bọn Chu Trang cấu kết với giặc Áo Đỏ bọn Trương Kình tại Vân Nam và châu Ninh Viễn ; chúng cướp giết nhân dân, thiêu huỷ châu huyện nhà cửa. Tại châu Quy Hoá, bọn giặc Hoàng Am tụ họp đám đông trộm cướp ; lại thêm tại huyện Phù Lưu, giặc Phan Khả Lợi theo tên đầu đảng Lê Lợi cướp phá. Vì hai phủ Thái Nguyên, Tuyên Hoá có những châu huyện lân cận với Vân Nam ; riêng tại châu Ninh Viễn có bọn giặc mặc áo đỏ bụng đen, nên gọi là giặc áo đỏ ; thổ quan Tri châu Đèo Cát Hãn để chúng lộng hành cướp phá, quan quân mang quân thảo phạt thì trốn sâu vào trong rừng, quân rút lại xuất hiện cướp phá ; xin mang quân đánh dẹp.”

Vì vậy nên ra sắc mệnh này. (Minh Thực Lục v. 16, t. 0392; Tuyên Tông q. 15, t. 1b)

Xét tình hình tại nước ta, lực lượng của Bình Định vương Lê Lợi càng ngày càng lớn mạnh, quân Minh dưới quyền Vinh dương bá Trần Trí không đảm đương nổi, nên nhà Minh điều quân đến tăng viện ; cùng sắc dụ Ai Lao không được dung nạp lực lượng nổi dậy :


Ngày 13 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ nhất [20/4/1426]

Sắc dụ Sở vương, Thục vương mỗi người điều lính bộ binh hộ vệ 1000 người ; các Đô chỉ huy ty Phúc Kiến, Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Hồ Quảng ; cùng các vệ Nam Trực Lệ tuyển điều quân kỵ cộng 15.000 người đến Giao Chỉ đánh giặc. Tại các phủ Tư Minh (2), Điền Châu tỉnh Quảng Tây tuyển điều Thổ binh bắn cung hơn 3000 tên đợi lệnh và làm hướng đạo. Lại sắc Lão Qua không được dung nạp bọn phản tặc. (Minh Thực Lục v. 16, tr. 406; Tuyên Tông q. 15, tr.6b)

Sau khi quân lính chuẩn bị sẵn sàng, bèn chọn Thành sơn hầu Vương Thông sung chức Tổng binh đi đánh dẹp :


Ngày 2 tháng 4 năm Tuyên Đức thứ nhất [8/5/1826]

Mệnh Thái tử Thái bảo Thành sơn hầu Vương Thông mang ấn Chinh Di Tướng quân sung chức Tổng binh, Đô đốc Mã Ánh sung Tham tướng, đến Giao Chỉ chinh tiễu giặc, trị an phủ dụ quân dân; vẫn ra lệnh Thượng thư Trần Hiệp làm Tham tán quân vụ. (Minh Thực Lục v.17, t. 419; Thái Tông q. 16, tr. 1a)

Lại mệnh Tam ty (3) tại Giao Chỉ, tuyển 3 vạn quân dưới sự điều động của Thông, cùng đình chỉ các công trình khác để dồn nỗ lực vào việc binh :


Ngày 2 tháng 4 năm Tuyên Đức thứ nhất [8/5/1426]

Sắc dụ Tam ty tại Giao Chỉ rằng :

“ Nay mệnh bọn Thành sơn hầu Vương Thông mang quân dẹp giặc. Khi Thông đến, hãy tuyển dân bản xứ 3 vạn người theo sự điều động của Thông, nhắm diệt giặc này để yên một phương. Các quan lại quân dân dưới quyền lấy việc cung ứng quân lữ làm trọng; tất cả các việc nhỏ mọn khác đều phải đình chỉ không được làm nhọc dân thêm nữa.” (Minh Thực Lục v. 17, t. 0419 ; Tuyên Tông q. 16, tr. 1a)

Cùng lúc vua Tuyên Tông nhà Minh giáng phạt cấp chỉ huy hàng đầu tại Giao chỉ như bọn Trần Trí, Phương Chính, Thái Phúc bắt làm Sự quan (4), và phải phục vụ dưới quyền Vương Thông để lập công chuộc tội :


Ngày 3 tháng 4 năm Tuyên Đức thứ nhất [9/5/1426]

Cách chức Vinh xương bá Trần Trí, Đô đốc Phương Chính quan tước ; giáng xuống sung vào Sự quan, tuân theo sự điều động của quan Tổng binh Vương Thông, làm tiên phong lập công chuộc tội. Những sắc dụ cùng ấn Chinh Di Phó tướng trước kia được lãnh, hãy giao cho Thông để nạp lên. Sắc dụ bọn Trí rằng :

“ Triều đình mệnh ngươi thống suất quân lính trấn đóng Giao Chỉ để dẹp tan giặc cướp, yên ổn dân chúng ; bọn ngươi ôm lòng riêng trục lợi, không hoà mục, để đến nổi giặc hoành hành, quan quân thua chết, tàn ngược dân lương thiện ; xét về tội các ngươi đáng vạn lần chết, không chuộc được. Nay tạm khoan hồng, cách chức tước, theo bọn Thành sơn hầu Vương Thông lập công để chuộc tội. Thái Phúc ngu đần, làm hỏng việc, cũng được tha tội chết để lập công, nếu giáp trận không biểu hiện vũ dõng, sẽ bị tru lục không tha thứ.” (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0419-0420 ; Tuyên Tông q. 16, tr. 1a-1b)

Lại giống như mấy lần tăng viện trước, từng áp dụng chính sách vừa đánh vừa dụ dỗ, lần này khi Vương Thông ra quân, cũng có chiếu thư xá tội đi kèm :


Ngày 3 tháng 5 năm Tuyên Đức thứ nhất [8/6/1426]

Xuống chiếu tha những người có tội tại Giao Chỉ. Chiếu rằng :

“ Đạo trị nước của Trẫm nhắm thương dân ; thể hiện lòng nhân từ xót xa, khoan tuất sự lầm lỗi. Giao Chỉ kể từ ngày sáp nhập vào bản đồ đến nay đã đến hai mươi năm ; mấy lần gây phản nghịch, làm bận đến vương sư. Nhưng ghét chết thích sống, lòng người không ai nghĩ khác ; đâm xuống vực, nhảy vào lửa không phải là bản tâm của con người. Tìm hỏi nguyên nhân đều do quan lại cai trị không đúng, không ngừng cướp đoạt ; cảnh tình kẻ dưới không đào đạt được lên, người trên lại không ân trạch ban xuống. Dân chúng lâm cảnh khốn khổ, đâm ra nghi ngờ, bèn trốn vào rừng núi, hô nhau làm loạn, tình cảnh thực bất đắc dĩ. Xét về tội cũng có chỗ đáng thương, nên ban ân mưa móc để đều được thấm nhuần.

Phàm quân dân Giao Chỉ phạm vào tội phản nghịch, bị phát giác hoặc chưa phát giác, bị kết án hoặc chưa kết án ; khi chiếu thư đến, tội không kể lớn nhỏ, đều được tha. Lê Lợi, Phan Liêu, Lộ Văn Luật, vốn đã quy phụ triều đình, từng được bổ nhiệm sử dụng, rồi suy nghĩ lệch lạc, để đến nỗi sai trái như vậy. Nay đặc biệt mở con đường đổi mới, nếu thành thực hối cải, trở lại theo điều thiện, giữ tiết bề tôi thì được tha tội, vẫn được trao quan chức. Những kẻ bị Lê Lợi bức hiếp theo nghịch, cùng những dư đảng của Trịnh Công Chứng trốn tránh chưa xuất hiện, nay có thể đích thân ra quy thuận, hoặc đến quan sở tại đầu thú cũng đều được tha, quan sẽ trở lại nguyên chức, quân trở lại nguyên đơn vị, dân trở lại với nghề cũ. Sau khi chiếu thư ban ra, như bọn Lê Lợi cùng những kẻ bị cưỡng bách, chấp mê không hối tội, vẫn chống mệnh như cũ, thì quân Thiên tử gia tăng thảo phạt, hối cũng không kịp nữa.

Từ nay trở về sau tại đất Giao Chỉ, ngoài việc nạp thuế lương thực, những việc trưng điều khai mỏ vàng, bạc, muối, sắt, hương liệu, cá, hoa quả đều đình chỉ ; vàng, bạc, đồng, tiền, muối, cá ướp được lưu hành trong lãnh thổ, quan phủ không cấm, để tỏ lòng thể tuất của Trẫm đối với dân chúng.” (Minh Thực Lục v. 17, t. 0448-0450; Tuyên Tông q. 17, tr. 1b- 2b)

Trước tình hình quân tác chiến bị thiếu hụt, Trần Trí xin tạm thời dẹp bỏ đồn điền, đem quân sản xuất dồn vào việc chiến đấu :


Ngày 24 tháng 5 năm Tuyên Đức thứ nhất [29/6/1426]

Sự quan Giao Chỉ Trần Trí tâu rằng :

“ Thủ lãnh giặc Lê Lợi tụ tập đám đông chiếm cứ châu Trà Lung [Long], quan quân đánh nhưng chưa bắt được. Tại Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hoá cũng cần dùng quan quân để tuần tiễu phòng bị, nhưng các vệ lính không đủ ; nên đã hội bàn cho triệt thoái hết 14 vệ giữ đồn điền, gồm hơn 2600 tên, tại phần đất phía trái Giao chỉ. Nay tại cửa biển Điển Canh, châu Cửu Chân, có thuyền giặc cướp bóc dân ta ; tại châu này lại có bọn giặc tụ tập làng xã để chiêu mộ đồ đảng. Tại châu, huyện thuộc các phủ Tuyên Hoá, Thái Nguyên có bọn giặc Áo Đỏ quấy nhiễu. Để lo việc chính tiễu tuần phòng xin trích ra 5000 tên trong số tổng cộng hơn 8900 tên từ các vệ Tả, Hữu, Trung, Tiền, Hậu tại Giao Châu ; cùng 9 vệ tại Xương Giang, Trấn Di, Tam Giang, Thị Cầu ; số quân các vệ này đang phụ trách về đồn điền. Những người lấy ra được miễn phải trưng thu gạo hàng năm, chờ khi bình xong giặc, lại trở về với đồn điền như cũ.”

Lời tâu được chấp thuận. (Minh thực Lục v. 17 tr. 0468-469 ; Tuyên Tông q. 17, tr.10b-11a)

Bộ Binh lại tâu trình thêm về lỗi lầm của một số cấp chỉ huy tại Giao Chỉ, để vua Tuyên Tông kịp thời trách phạt uốn nắn, nhắm giúp cho Vương Thông uy tín, đánh dẹp có hiệu quả hơn :


Ngày 9 tháng 7 năm Tuyên Đức thứ nhất [11/8/1426]

Bộ Binh nơi hành tại tâu rằng :

“ Bọn Sự quan Giao Chỉ Phương Chính đánh Lê Lợi ; nhưng bọn An bình bá Lý An ; Đô chỉ huy Vu Tán, Tạ Phượng, Tiết Tụ, Chu Quảng, Trần Phong đụng trận thì lui trước ; Chính có thành tích dũng cảm.”

Thiên tử mệnh tạm tha. Sắc dụ Thành sơn hầu Vương Thông lệnh An, cùng bọn Tán, Phượng, Tụ, Quảng, Phong được đái tội làm Sự quan, cùng bọn Trần Trí dẫn đầu lập công ; nếu không có công bị trừng trị theo quân pháp. (Minh Thực Lục v. 17, tr, 500-501 ; Tuyên Tông q. 19, tr. 5a-5b)

Lúc này Thượng thư Trần Hiệp tâu rằng Bình định vương Lê Lợi đánh thành Nghệ An rất gấp, nhưng chưa hạ được :

Ngày 28 tháng 8 Tuyên Ðức thứ nhất [29/9/1426]

Người cầm đầu ty Bố chánh, Án sát Giao Chỉ Thượng thư Trần Hiệp sai người tâu rằng : đầu sỏ giặc Lê Lợi, đến thành Nghệ An khí thế rất mạnh, ngày đêm đánh thành. Bị Sự quan Lý An, Phương Chính hợp quân đánh bại. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 546; Tuyên Ðức q. 20, tr. 15b)

Sau khi thử thách tại thành Nghệ An, Bình Định vương Lê Lợi nhận thấy quân tinh nhuệ của giặc đều đóng tại nơi này, lực lượng địch tại miền Bắc nhất định suy yếu. Ngài quyết định để một phần nghĩa quân cầm chân giặc tại Nghệ An, mang đại quân ra bắc tấn công vùng biên giới và uy hiếp thành Đông Quan [Hà NộI]. Nếu như một người tầm thường, lần lượt cho quét sạch quân địch trên đường tiến quân, thì mất không biết bao nhiêu ngày tháng ; hơn nữa số quân địch bị tổn thất, sẽ có quân tiếp viện vượt biên giới sang tăng cường, thì chiến tranh còn lâu mới chấm dứt được. Bởi vậy trên đường tiến quân ra Bắc, Bình Định vương quyết định chỉ uy hiếp giặc co cụm lại trong thành, dùng lực lượng địa phương khống chế; rồi mang đại quân ra bắc :

Vương cho rằng quân tinh nhuệ của nhà Minh ở cả Nghệ An, Đông Đô trở thành yếu ớt trống rỗng bèn sai :

Bọn Thái uý Lý Triện, Xu mật Phạm Văn Xảo, thái giám Trịnh Khả và Đỗ Bí ra từ Thiên Quan, đi tuần vùng Quốc Oai, Quảng Oai, Gia Hưng, Quy Hoá, Đà Giang, Tam Đái và Tuyên Quang để diệt đạo viện binh nhà Minh từ Vân Nam kéo xuống ; 

Bọn Thiếu uý Lưu Nhân Chú và Bùi Bị ra từ Thiên Quan, đi tuần vùng Thiên Trường, Kiến Xương, Tân Hưng, Thượng Hồng, Hạ Hồng, Bắc Giang và Lạng Sơn để diệt đạo viện binh từ Lưỡng Quảng kéo xuống ;

Bọn Tư đồ Đinh Lễ và Lê Xí thống suất toán quân tinh nhuệ kế tiếp xuất phát, thọc ngay vào Đông Quan để phô trương thanh thế, rồi sau mới thừa cơ mà tiến thủ.

Các tướng trẩy đến đâu cũng giữ quân luật nghiêm túc, không tơ hào xâm phạm đến của nhân dân. Bấy giờ các lộ ở Đông Đô và các thổ tù ở ven biên giới chẳng ai là không vui vẻ hả hê.

Cánh quân của các tướng Lý Triện từ mạn Quốc Oai và Tam Đái đe doạ bức bách thành Đông Quan. Tham tướng Minh, Trần Trí dốc hết quân ra mạn Ninh Kiều (5) và Ứng Thiên để chống cự. Triện cùng bọn Xảo, Khả và Bí hợp sức đánh hăng, quân của Trí phải thua chạy. Bọn Triện tiến đóng ở bờ phía tây sông Ninh Giang.

Chợt được tin hơn vạn quân cứu viện của nhà Minh sang từ Vân Nam, sắp đến thành Tam Giang, mà đạo quân do Lễ và Xí chỉ huy chưa kịp đến, bọn Triện e rằng hai đạo quân của địch nếu phối hợp được với nhau thì mình khó chế trị được. Triện bèn chia cho Xảo và Khả hơn nghìn quân, đi thẳng lên trước và đón đường chặn đánh địch ; còn mình và bọn Xí đem vài nghìn quân tinh nhuệ, thừa thắng đuổi theo cánh quân của Trí. Khi đến Nhân Mục, bắt sống được đô ti Minh, Vi Lượng, và chém được hơn nghìn thủ cấp địch, rồi lại quay về Ninh Giang, làm thanh thế tiếp ứng cho bọn Xảo.

Còn cánh quân của bọn Xảo, khi đến cầu Xa Lộc, gặp đạo quân của Vương An Lão, đô ti Vân Nam của Minh : quân ta đón đánh, cả phá được địch, chém và bắt được không biết bao nhiêu mà kể. Số quân còn sót lại của địch phải rút vào giữ thành Tam Giang. (6)

Minh Thực Lục cũng xác nhận việc Ðô Chỉ huy Vi Lượng thất trận bị bắt như sau :


Ngày 13 tháng 10 năm Tuyên đức thứ nhất [12/11/1426]

Quan Tổng binh Thành sơn hầu Vương Thông tấu rằng Đô Chỉ huy Vi Lượng hành quân tại Giao Chỉ bị thất lợi. Lúc bấy giờ đồ đảng của Lê Lợi là Lê Thiện chiếm cứ châu Quảng Oai ; Sự quan Trần Trí sai Lượng cùng các Chỉ huy Vương Miễn, Tư Quảng mang quân chống cự. Khi quân đến đất này, Lượng muốn vượt sông, nhưng viên quan Thổ quan là Chỉ huy Hà Kháng nói :

“ Chắc bọn chúng đặt phục binh, phải cẩn thận đừng coi thường mà tiến.”

Lượng không nghe, sai Chỉ huy Đào Sâm, Tiền Phụ vượt sông đánh, giặc đặt phục binh và mang quân chặn đoạn hậu ; giết Sâm, Phụ, Thiên hộ Triệu Trinh cùng hơn 500 quân, Lượng cũng bị bắt. Thông, cùng Tuần, Án, Ngự sử đem việc này tâu lên. Thiên tử cho rằng Vương Miễn và Tư Quảng không cứu viện, sắc mệnh Thông phạt Miễn, Quảng sung quân lập công chuộc tội ; vẫn ra lệnh Thông tiến binh dẹp giặc. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0579-580 ; Tuyên Tông q. 22, tr. 5b)

Tháng 10 quân Vương Thông đến thành Ðông Quan (Hà Nội). Lý Triện làm cuộc tấn công thử thách, rồi nhử quân Minh đến Ninh Kiều, khiến đại quân của Vương Thông sa vào trận phục kích lớn :

Bấy giờ nhà Minh sai Thành Sơn hầu Vương Thông làm chinh di tướng quân, và đô đốc Mã Anh làm tham tướng, đem năm vạn quân sang cứu Đông Quan, bóc hết chức tước của bọn Trần Trí và Phương Chính, cho sung làm sự quan, lệ thuộc trong quân để lập công chuộc tội ; còn Trần Hiệp thì vẫn cho làm tham tán quân vụ. Tất cả đều ở dưới quyền chỉ huy của Thông.

Thông mới đến, tinh thần rất hăng, điều động tất cả mười vạn quân, cùng bọn Hiệp chia làm ba đường, đồng thời xuất phát. Thông đóng ở bến Cổ Sở; Phương Chính đóng ở Sa Đôi ; Mã Kỳ đóng ở Thanh Oai. Doanh trại của chúng đằng dăng đến vài mươi dặm, cờ xí rợp cả đồng nội. Chúng tự cho rằng chỉ một chuyến này có thể dẹp yên được.

Các tướng Triện và Bí từ Ninh Kiều tiến đến Sốm (7), chia quân và voi cho mai phục sẵn để đợi giặc. Họ cho toán du binh xông xáo đến sát trại Mã Kỳ, khiêu chiến, giả cách thua chạy. Mã Kỳ lùa hết quân đuổi theo. Khi chúng đến cầu Ba La (8) : quân phục của ta nổi dậy, đánh cắt ngang trận địch. Quân Minh tan vỡ, chạy bừa, sa lầy, bị chém hơn nghìn thủ cấp. Quân ta ruổi dài đến cống Mọc (9), bắt được hơn năm trăm địch. Thây giặc rải rác đến vài mươi dặm. Mã Kỳ chỉ kịp một người một ngựa trốn về.

Các tướng Lý Triện thừa thắng, muốn chẹn phía sau Phương Chính, nhưng Phương Chính đã rút quân lui rồi. Bấy giờ trời đã chiều hôm, các tướng bên ta phải đem quân quay về. Bọn Kỳ và Chính nhân lúc ban đêm, lén đem quân đến hội với Vương Thông.

Ngày hôm sau, các tướng Lý Triện đến bến Cổ Sở, bổ vây quân Thông. Trước đó, Thông đã đặt quân mai phục, và đã đan tre làm cái khiên, phía trong khiên có cài chông sắt. Khi thoạt giao chiến, quân của Thông đã quăng bỏ khiên, giả vờ chạy. Bọn Triện đuổi theo : voi giẫm phải chông, không lợi. Bọn Triện bèn thu quân vào giữ Cao Bộ.

Nghe nói các tướng Đinh Lễ và Lê Xí đang đóng quân ở Thanh Đàm, Triện liền sai báo gấp cho họ đến tiếp ứng. Bọn Lễ và Xí lựa lấy ba nghìn quân tinh nhuệ và hai thớt voi, tức tốc ngay ban đêm, đến hội quân ở Cao Bộ. Họ chia quân đặt phục ở Tốt Động (10) và Chúc Động.

Bắt được gián điệp của địch, ta biết rằng Thông đã tiến đóng ở Ninh Kiều, ngầm cho kỳ binh đi rảo đến phía sau quân Triện, còn chính binh của Thông thì sẽ qua sông tiến lên phía trước. Chúng hẹn nhau rằng hễ nghe nổ pháo thì các đạo quân địch đồng thời đánh khép lại. Hồi trống canh năm đêm ấy, bọn Lễ sai quân nổ pháo ở nơi yếu hại để đánh lừa địch. Địch nghe tiếng pháo, mọi đứa đều đổ xô đi chiếm lấy thuận lợi. Chúng lùa quân đi tắt vào. Bấy giờ trời mưa, đường lầy lội. Chúng kéo đến Tốt Động, bị quân phục của ta bốn bề nổi dậy. Quân ta hợp sức lại, hăng hái chiến đấu, cả phá được địch : chém thượng thư Trần Hiệp và nội quan Lý Lượng. Ta lại đuổi kẻ chạy, dượt kẻ thua, hoặc giết chết, hoặc bắt  sống. Quân Minh cùng giày đạp chồng chất lên nhau, chết đến hơn năm vạn. Số quân địch chết đuối cũng rất nhiều, làm nghẽn cả khúc sông Ninh Giang. Ta bắt sống được hơn một vạn địch, tước được quân nhu và khí giới vô kể.

Bọn Chính và Kỳ chạy trốn. Thông bị thương, chạy về Đông Quan, đóng chặt cửa thành, cố giữ.

Thông sai phá huỷ chuông Quy Điền (11) và vạc Phổ Minh (12) để làm chiến xa và vũ khí. (13)

Nhà Minh, phía thua trận không dám huênh hoang nói nhiều, nhưng Minh Thực Lục cũng đã xác nhận quân bại, Thượng thư Trần Hiệp, Ðô chỉ huy Lý Ðằng chết, Vương Thông bị thương :


Ngày 6 tháng 11 năm Tuyên Đức thứ nhất [4/12/1426]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Thành sơn hầu Vương Thông tiến binh đánh giặc, bị thua to giặc bèn vây thành Đông Quan. Trước đó tướng giặc Lê Thiện chia quân làm 3 đạo, tới đánh thành Giao-Chỉ. Một đạo từ cửa phía tây đánh vào thành đất Thanh Oai, một đạo từ Giáo Trường đánh Hạ Quan ; bị Đô đốc Trần Tuấn dùng súng lửa, hoả tiễn đánh lui ; một đạo đánh vào cửa nhỏ tại ven sông gặp Sự quan Lý An mang quân tinh nhuệ giao chiến, giặc bị chết rất nhiều, nửa đêm bèn rút lui.

Lúc này Thông điều quân chia đường mà tiến. Tham tướng Đô đốc Mã Ánh mang quân đến Thanh Oai gặp giặc, đánh bại chúng. Rồi đến huyện Thạch Thất họp quân với Thông, cả hai mang quân đến huyện Ứng Bình, trú quân tại Ninh Kiều. Các tướng nói đất này hiểm trở nên lập trại để xem tình hình, không nên coi thường mà tiến. Thông không nghe, cho điều quân qua cầu, đường sá lầy trơn, người ngựa lặn lội, phục binh nổi lên, quan quân bị bại ; Thượng thư Trần Hiệp chết, Đô Chỉ huy Lý Đằng bị chết vào tay giặc, Thông trúng thương nên quay về. Lê Lợi tại Nghệ An nghe tin bèn mang đại quân tới Thanh Đàm, đánh các xứ tại Bắc Giang, rồi vây thành Đông Quan. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0593-0594 ; Tuyên Tông q. 22, tr. 12a-12b)


Chú thích

1. Tuổi búi tóc trái đào : ý nói tuổi thiếu niên.

2. Tư Minh : phủ trị Tư Minh xưa tại huyện Ninh Minh hiện nay, vị trí cách ải Nam Quan khoảng 30km.

3. Tam ty : gồm 3 ty Ðô ty, Bố chánh ty, Án sát ty.

4.  Sự quan : theo quychế nhà Minh, quan bị tội, cho tạm thời giữ chức để lập công chuộc tội, gọi là Sự quan.

5. Ninh Kiều : vùng Ninh Sơn, xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây ngày nay.

6. Cương Mục, Sđd, trang 365-366.

7. Hán văn gọi là Cổ Lãm.

8. Hán văn gọi là "Tam La kiều". Cái cầu chỗ giáp giới ba làng La, tức là La Khê, La Cả và La Nội, nay thuộc xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây.

9. Nguyên văn là "Nhân Mục kiều". Nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội.

10. Tốt Ðộng : nay có xã Tốt Ðộng, thuộc huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây.

11. Chuông Quy Điền : Thôn Thanh Bảo, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội có chùa Một Cột. Tục truyền rằng đời Lý đúc quả chuông lớn, để ở trong chùa, đánh không kêu, bèn đem bỏ chuông ấy ở ruộng Quy Điền. Ruộng này trũng thấp ẩm ướt, có sản nhiều rùa, nên gọi tên như vậy.

12. Phổ Minh : Tên chùa. Năm Thiệu Long thứ 5 (1262) đời Trần Thánh Tông làm chùa này, có đúc cái vạc và khắc bài minh vào vạc.

13. Cương Mục, Sđd, trang 367-368.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss